CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ THẺ THANH TOÁN NGÂN HÀNG Tiền mặt là một phương thức thanh toán không thể thiếu ở bất cứ một quốc gia nào, tuy nhiên, khi xã hội càng phát triển, nhiều phương thức thanh toán nhanh chóng, tiện dụng và hiện đại hơn ra đời và được gọi chung là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM). Và thẻ thanh toán là một trong những phương tiện TTKDTM được sử dụng phổ biến nhất trong giai đoạn hiện nay. Cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng và những ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin, tự động hóa,… nhiều hình thức TTKDTM tiện lợi, an toàn đã, đang được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.
Phương tiện thanh toán tiền mặt là không thể thiếu, song ngày nay, chúng không còn là phương tiện thanh toán tối ưu trong các giao dịch thương mại, dịch vụ nữa. Khi hoạt động thanh toán trong xã hội còn được thực hiện phổ biến bằng tiền mặt có thể dẫn đến một số bất lợi và rủi ro như: Chi phí của xã hội trong hoạt động thanh toán rất tốn kém; việc thực hiện giao dịch thanh toán bằng tiền mặt dễ bị các đối tượng phạm pháp lợi dụng để gian lận, trốn thuế; vấn đề an ninh trong thanh toán, bảo quản, vận chuyển tiền mặt luôn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm; sử dụng tiền mặt trong giao dịch thanh toán của xã hội sẽ là môi trường thuận lợi cho tội phạm lưu hành tiền giả, đe dọa trực tiếp đến lợi ích của các tổ chức, cá nhân và tình hình an ninh quốc gia. Các bất lợi trên đây là vấn đề xảy ra với mọi quốc gia, song với các nước mà việc thanh toán bằng tiền mặt còn ở mức phổ biến như Việt Nam hiện nay thì tình hình sẽ càng phức tạp và khó kiểm soát hơn. Để khắc phục Luan van 7 tình trạng trên, hàng loạt các phương tiện TTKDTM ra đời như: séc, UNC, UNT, L/C và đặc biệt là thẻ thanh toán- một phương tiện TTKDTM rất được ưa chuộng trên thế giới và rất phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay.
Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 291/2006/QĐ- TTg (ngày 29/12/2006) phê duyệt Đề án TTKDTM giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020 tại Việt Nam. Đề án là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động thẻ thanh toán đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam hiện nay. Khái niệm thẻ thanh toán Thẻ thanh toán không chỉ tiện lợi, an toàn, nhanh chóng cho việc thanh toán, đồng thời còn thể hiện được tính văn minh, hiện đại của thời kỳ hiện đại hoá và toàn cầu hoá. Thẻ bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng.
Có thể hiểu khái niệm về thẻ thanh toán như sau: Theo Nguyễn Đăng Dờn, thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán điện tử do ngân hàng phát hành cho khách hàng, cho phép chủ thẻ sử dụng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ hoặc để rút tiền mặt trong phạm vi số tiền trên tài khoản của khách hàng hoặc trong hạn mức tín dụng của thẻ [2]. Thẻ thanh toán là một hình thức của tiền điện tử, là phương tiện TTKDTM mà chủ thẻ có thể rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ. Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa NH hay tổ chức tài chính với các điểm thanh toán. Theo Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng, ban Luan van 8 hành kèm theo quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN ngày 19.1999 của NHNN, thẻ thanh toán được hiểu là “công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cung cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ”[5].
Như vậy, thẻ thanh toán là phương tiện TTKDTM do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các điểm cung ứng hàng hoá dịch vụ có ký hợp đồng thanh toán với ngân hàng, rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hay các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Phân loại thẻ thanh toán Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thẻ thanh toán cũng ngày càng đa dạng và phong phú, được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu và ứng dụng, thẻ thanh toán có thể được phân loại theo các tiêu thức sau: a. Phân loại theo công nghệ sản xuất · Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): đây là loại thẻ được sản xuất đầu tiên, dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi.
Trên bề mặt thẻ được khắc chữ nổi các thông tin cần thiết. Hiện nay, trên thị trường không còn dùng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật sản xuất đơn giản, quá thô sơ, và dễ bị làm giả. · Thẻ băng từ (Magnetic stripe): được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa thông tin ở mặt sau của thẻ. Theo đó, các dữ liệu, thông tin liên quan đến khách hàng sẽ được mã hóa, lưu trữ trong dải băng từ, được sử dụng phổ biến khoảng hai mươi năm nay và bộc lộ một số nhược điểm: - Khả năng bị lợi dụng cao do thông tin ghi trong thẻ không tự mã hóa, có thể bị người khác đọc được dễ dàng bằng thiết bị đọc gắn với máy vi tính.
- Dễ bị nhiễu thông tin khi tiếp xúc với môi trường từ tính. Luan van 9 - Thẻ từ chỉ mang thông tin cố định, khu vực chứa dữ liệu hạn hẹp, không áp dụng được các kỹ thuật mã hoá, bảo mật thông tin. Do vậy, thẻ từ những năm gần đây đã bị lợi dụng để lấy cắp tiền. · Thẻ thông minh (Smart Card): là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ được gắn một bộ mạch tích hợp có khả năng lưu trữ và xử lý thông tin.
Thẻ thông minh dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ “chip” điện tử có cấu trúc giống một máy tính hoàn hảo. Ngoài nhược điểm với chi phí phát hành cao, loại thẻ này có nhiều ưu điểm nổi trội so với hai loại nêu trên: - Thẻ thông minh có thể nhận và xử lý dữ liệu bằng các ứng dụng thẻ mạch tích hợp và đưa ra kết quả. - Tính bảo mật và an toàn cao: bên trong bộ mạch tích hợp ngoài thông số về nhà sản xuất, số sêri hệ điều hành còn có chứa nhiều chìa khoá bảo mật của nhà sản xuất, chìa khoá của nhà chế tạo và chìa khoá cá nhân. Phân loại theo chủ thể phát hành thẻ · Thẻ do ngân hàng phát hành: thẻ do ngân hàng phát hành cho các chủ thẻ sử dụng để giao dịch trong phạm vi số dư tiền gởi tại ngân hàng hoặc trong hạn mức tín dụng cho phép.
Đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay, không chỉ lưu hành trong lãnh thổ một quốc gia mà còn có thể lưu hành toàn cầu. · Thẻ do các tổ chức phi tín dụng phát hành: là loại thẻ do các tập đoàn kinh tế kinh doanh lớn, các công ty xăng dầu, các công ty cung ứng hàng hoá dịch vụ, du lịch, giải trí. phát hành cho chủ thẻ sử dụng tại các cửa hàng đại lý của công ty để tạo thêm tiện ích cho khách hàng cũng như thuận lợi cho việc quản lý tài chính và kích thích người tiêu dùng như Diners club, Amex. Phân loại theo hạn mức của thẻ · Thẻ chuẩn (Standard card): là loại thẻ phổ thông với hạn mức thấp đáp ứng nhu cầu chi tiêu ở mức trung bình.
· Thẻ vàng (Gold card): là thẻ được các khách hàng có thu nhập cao sử dụng nhằm đáp ứng mức sống cũng như nhu cầu chi tiêu cao hơn mức trung bình. Để được là đối tượng sử dụng thẻ này, khách hàng phải có khả năng tài chính lành mạnh, có uy tín, có nhu cầu chi tiêu lớn. Hạn mức tín dụng của loại thẻ này cũng cao hơn thẻ chuẩn. Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ · Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ trong hạn mức tín dụng được cấp và chủ thẻ phải thanh toán ít nhất mức trả nợ tối thiểu vào ngày đến hạn.
Thẻ tín dụng được xem là một công cụ tín dụng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng đối với các chủ thẻ, đây là sự kết hợp giữa tín dụng và thanh toán. · Thẻ ghi nợ (Debit Card): là loại thẻ phát hành cho khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng. Chủ thẻ chỉ có thể chi tiêu hoặc rút tiền tại các máy ATM, ĐVCNT hoặc các đại lý rút tiền trong phạm vi số tiền mình có. · Thẻ trả trước: là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ.
Phân loại theo phạm vi lãnh thổ · Thẻ nội địa: thẻ được phát hành và được giới hạn sử dụng trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia, đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ của quốc gia. · Thẻ quốc tế: Là thẻ được chấp nhận sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu, sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán. Vai trò của thẻ thanh toán trong phát triển kinh tế xã hội a. Đối với ngân hàng · Vai trò của thẻ đối với hoạt động huy động vốn của NHTM: Thẻ ghi nợ được phát hành dựa trên cơ sở tài khoản tiền gởi mở tại ngân hàng, do đó, số lượng thẻ phát hành càng nhiều, số tài khoản tiền gởi càng tăng, thông qua đó, vốn của ngân hàng cũng tăng một khoản tương ứng.
Mặt khác, trong quy chế phát hành, thanh toán thẻ tín dụng, các ĐVCNT đều phải có tài khoản tại ngân hàng. Mỗi giao dịch phát sinh, ĐVCNT gởi hóa đơn thanh toán đến ngân hàng đồng thời làm căn cứ để ghi có tài khoản tiền gởi của ĐVCNT. Như vậy, đồng thời làm tăng số dư tài khoản. Đây là hình thức huy động vốn của ngân hàng phát hành và cả ngân hàng thanh toán.