Chương 1: Những vấn đề cơ bản về dịch vụ thanh toán thẻ của NHTM. Chương 2: Thực trạng dịch vụ thanh toán thẻ tại NH TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bình Định. Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thanh toán thẻ tại NH TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bình Định. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN THẺ CỦA NHTM 1.
Dịch vụ NHTM 1. Khái niệm NHTM Ở Việt Nam trong Pháp lệnh NH, HTX tín dụng và Công ty tài chính (1990) có đưa ra quan điểm: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của KH với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Theo luật các tổ chức tín dụng quy định: “NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật”. Tác giả Nguyễn Văn Ngọc đưa ra quan điểm về dịch vụ trong cuốn sách từ điển kinh tế: dịch vụ là các sản phẩm như dịch vụ du lịch, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ NH, dịch vụ bảo hiểm… Các sản phẩm dịch vụ không có hình dạng cụ thể.
Trong tổng sản phẩm quốc dân, dịch vụ là một thành tố quan trọng, nằm trong hệ thống hạch toán thu nhập trong nước. Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính có các chức năng chính: - Chức năng trung gian tín dụng: là việc NH thực hiện vai trò là trung gian nhận tiền gửi của người thừa vốn và cung ứng vốn cho người có nhu cầu về vốn, đồng thời là khoản chênh lệch giữa l i suất cho vay và l i suất huy động vốn. Đây là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM, thông qua đó tạo nên nguồn lợi nhuận chủ yếu cho NH và tạo nên lợi ích cho cả người gửi tiền và bên đi vay. - Chức năng trung gian thanh toán: NH thể hiện vai trò là thủ quỹ cho các 7 cá nhân và tổ chức, theo yêu trích từ tài khoản tiền gửi của họ hoặc nhập tiền vào theo lệnh thu hộ.
Ngày càng cung ứng nhiều dịch vụ thanh toán hiện đại như: dịch vụ NH điện tử, dịch vụ thanh toán ủy nhiệm chi, thanh toán thẻ, thanh toán séc… Các hình thức thanh toán không cần sử dụng đến tiền mặt đ tạo cho các chủ thể kinh tế nhiều mặt thuận lợi, nhanh chóng, đảm bảo an toàn trong các giao dịch, không cần giữ tiền mặt và mang theo khi thanh toán, tiết kiệm chi phí, đảm bảo an toàn. Chức năng trung gian thanh toán vô hình chung đ thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua việc thúc đẩy tốc độ lưu chuyển vốn, tốc độ lưu thông hàng hóa. - Chức năng tạo tiền: đây là chức năng thể hiện bản chất của NHTM và có vai trò quan trọng. Để có thể tồn tại và phát triển các NHTM phải thực hiện mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, với đặc thù kinh doanh khác với các tổ chức kinh tế khác NHTM đ thực hiện chức năng tao tiền cho nền kinh tế.
NH thực hiện hai chức năng tín dụng và chức năng thanh toán chính là cở sở để thực thi chức năng tạo tiền. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ NH Dịch vụ NHTM là toàn bộ các hoạt động mà một NHTM có thể tạo ra nhằm phụ vụ nhu cầu của KH, góp phần làm tăng thu nhập của NH. NHTM cung ứng các sản phẩm dịch vụ cho KH để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cuộc sống, nhu cầu mở rộng kinh doanh… Thông qua đó NH thu phí dịch vụ hoặc chênh lệch lãi suất. Ngành NH ngày càng phát triển và cung cấp ra thị trường nhiều loại hình dịch vụ mới.Dịch vụ NHTM mang đặc điểm chung của dịch vụ: - Tính đồng thời: quá trình tạo ra và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời chứ không như hàng hóa vật chất sau khi sản xuất có thể nhập kho, phân phối qua nhiều khâu trung gian rổi mới đến tiêu dùng.
- Tính không thể tách rời: quá trình tạo ra và tiêu dùng dịch vụ không thể tách rời. Có nghĩa là quá trình sản xuất và giai đoạn sử dụng của dịch vụ khó có thể phân định thành hai giai đoạn. Sản phẩm dịch vụ được KH sử dụng ở khâu 8 cuối cùng nhưng lại cùng đồng hành trong một phần quá trình hoặc cả quá trình tạo ra dịch vụ. - Tính không đồng nhất: đây là đặc tính riêng biệt của dịch vụ - không có chất lượng đồng nhất.
Có nghĩa là việc các dịch vụ được thực hiện thường không giống nhau tùy vào từng nhà cưng ứng, cách thức cung ứng dịch vụ, người trực tiếp phục vụ, thời gian, không gian, đối tượng phục vụ và lĩnh vực phục vụ… - Tính vô hình: Dịch vụ không giống như sản phẩm vật chất có thể nhìn thấy, nghe thấy, nếm, ngửi… trước khi người mua mua chúng. Do đó, để tăng thêm mức độ đảm bảo và sự tin tưởng người mua sẽ tìm kiếm các dấu hiệu hay các bằng chứng về chất lượng dịch vụ. Người mua thường căn cứ vào uy tín, địa điểm kinh doanh, con người, mức giá, trang thiết bị phục vụ, các thông tin từ người quen… - Không lưu trữ được: không giống như hàng hóa vật chất có thể lưu trữ tại các kho. Như vậy, trong trường hợp nhu cầu ổn định thì dịch vụ có thể đáp ứng tốt nhưng trong trường hợp nhu cầu thay đổi đột xuất các nhà cung ứng dịch vụ sẽ gặp khó khăn do không thể cung ứng kịp thời dịch vụ đảm bảo chất lượng được.
Theo tác giả Phạm Thị Bích Duyên trong luận án tiến sỹ: “Chất lượng dịch vụ thẻ ghi nợ tại các NHTM Việt Nam” năm 2016 cho rằng các NHTM có lượng cung ứng dịch vụ ra thị trường khác nhau, nhìn chung có các nhóm dịch vụ phổ biến sau: - Hoạt động nhận tiền gửi và các loại quỹ có thể hoàn lại; - Hoạt động tín dụng; - Hoạt động thanh toán; - Hoạt động cung ứng dịch vụ thẻ; - Hoạt động dịch vụ cho thuê tài chính; - Hoạt động quản lý tài sản; 9 - Hoạt động cung ứng dịch vụ bảo l nh và ủy thác; - Hoạt động thanh toán quốc tế; - Dịch vụ chứng khoản, tư vấn tài chính; - Dịch vụ kinh doanh tiền tệ và công cụ phái sinh; - Dịch vụ bảo hiểm. Dịch vụ thanh toán thẻ của NHTM 1. Khái niệm và phân loại dịch vụ thanh toán thẻ Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế góp phần gia tăng sự nhanh chóng, an toàn và thuận lợi của các tổ chức và cá nhân. Xu hướng sử dụng dịch vụ thanh toán hiện đại đ tạo nhiều cơ hội cho các NH nhưng cạnh tranh gay gắt cũng gây áp lực đòi hỏi các NH phải không ngừng nghiên cứu cung ứng các dịch vụ thanh toán chất lượng tốt nhất.
Tác động không ngừng của cuộc CMCN đ tạo ra sự thay đổi hoàn toàn hệ thống công nghệ sản xuất, khả năng quản lý của con người. Trong đó, CMCN đ tác động mạnh mẽ lên ngành NH của lĩnh vực này. Nhìn chung thẻ thanh toán là một hình thức TTKDTM mà người sở hữu thẻ có thể sử dụng nó để thực hiện các giao dịch thỏa mãn nhu cầu bản thân như: rút tiền mặt, thanh toán tiền hàng, chuyển tiền, kiểm tra tài khoản… Thẻ không phải là tiền nhưng chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để thực hiện nhu cầu từ chính tiền gửi của mình trong tài khoản NH hoặc vay NH để chi tiêu. Đây có thể xem là một cam kết của tổ chức phát hành hoặc NH dành cho chủ thẻ về việc đảm bảo khả năng thanh toán.
Thanh toán thẻ có bản chất như sau: - Xét về hình thức thẻ là một danh từ chỉ một vật được thiết kế nhỏ gọn, chứa các thông tin về chủ thẻ, tài khoản, số dư… để sử dụng vào các mục đích khác nhau. Thẻ có nhiều loại (thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ…) nên có những tính chất, đặc điểm, nội dung riêng biệt. 10 - Xét về góc độ phát hành: đơn vị phát hành thẻ là các định chế tài chính, các NHTM hoặc các công ty phát hành nhằm tạo ra một phương tiện thanh toán dùng để rút tiền mặt hoặc thực hiện các giao dịch trao đổi, mua bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. - Xét về góc độ công nghệ thanh toán: thẻ là phương thức thanh toán hiện đại thực hiện trên hệ thống điện tử dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại và có sự tham gia kết nối của các chủ thể.
Quyết định số 20/2007/QD-NHNN của Thống đốc NHNN ban hành quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ NH đ đưa ra khái niệm: “Thẻ NH là một phương tiện thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ không dùng tiền mặt hoặc có thể được rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc các NH đại lý hoặc thẻ NH là một phương tiện TTKDTM mà chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán chi phí mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ tại các điểm chấp nhận”. (Nguồn: Quyết định 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007) Trong một NH hiện đại dịch vụ thẻ là sản phẩm thuộc dịch vụ cá nhân hay chính là thuộc nhóm dịch vụ bán lẻ. Thông qua dịch vụ này NH cung cấp cho KH một phương thức thanh toán với hình thái vật chất là một tấm thẻ thanh toán để KH có thể sử dụng để phục vụ nhu cầu tiêu dùng thông qua các tính năng và tiện ích mà NHPH thẻ cung cấp. Thanh toán bằng thẻ là một trong những phương thức thanh toán không cần sử dụng tiền mặt, ra đời và ngày cùng phát triển gắn với phương thức mua bán hàng hóa bán lẻ.
Trong điều kiện ứng dụng cách mạng công nghệ trong lĩnh vực tài chính NH đ càng tạo cơ sở cho phương thức thanh toán thẻ ngày càng phát triển. Phân loại thẻ Có nhiều cách phân loại thẻ căn cứ vào các tiêu chí khác nhau như: Căn cứ vào công nghệ sản xuất: có 3 loại thẻ là: - Thẻ khắc chữ nổi: là loại thẻ chế tạo dựa trên công nghệ khắc chữ nổi 11 trên bề mặt thẻ. Đây là loại thẻ được sản xuất ra đầu tiên, tuy nhiên do công nghệ thô sơ nên tính bảo mật không cao, dễ bị giả mạo nên hiện nay loại thẻ này không còn được sử dụng. - Thẻ băng từ: trên thẻ có 2 băng từ chứa các thông tin về chủ thẻ.