CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng điện tử 1. Khái niệm về ngân hàng điện tử Dịch vụ ngân hàng điện tử là một sản phẩm, dịch vụ NHTM cung cấp. Do đó, tác giả sẽ đưa ra khái niệm về NHĐT trước khi nghiên cứu về phát triển dịch vụ này tại NHTM.
Trên Tạp chí The Australian Banker (1999) đã đưa ra một khái niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử. Theo đó dịch vụ ngân hàng điện tử là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua việc nối mạng máy vi tính của mình với ngân hàng. Theo quyết định số 35/2006/QĐ-NHNN ban hành ngày 21/07/2006, Ngân hàng điện tử đã được Ngân hàng Nhà nước định nghĩa như sau: “Hoạt động ngân hàng điện tử là hoạt động ngân hàng được thực hiện qua các kênh phân phối điện tử. Kênh phân phối điện tử là hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý giao dịch được tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho khách hàng.” Cùng với đó, theo Trương Đức Bảo (2003), dịch vụ ngân hàng điện tử là khả năng mà khách hàng có thể truy cập từ xa, vào hệ thống của ngân hàng để thực hiện giao dịch thanh toán trên tài khoản có sẵn tại ngân hàng, và đăng kí sử dụng thêm dịch vụ mới.
Theo quan điểm của tác giả Vũ Hoàng Diệu (2015), NHĐT bao gồm tất cả các dạng giao dịch giữa NH và KH (trong đó bao gồm cả cá nhân, và tổ chức) dựa trên việc chuyển giao một cách số hóa các dữ liệu với mục đích cung cấp dịch vụ NH. Vì vậy, đây có thể được hiểu là một sản phẩm dịch vụ của NH, giúp KH có thể thực hiện các giao dịch mà không cần phải trực tiếp đến quầy, gặp nhân viên tại NH. Rộng hơn, đây chính là sự kết hợp giữa sự phát triển hiện đại hóa của công nghệ thông tin và thương mại điện tử. Ở đó, ngân hàng điện tử (còn được gọi là E- 5 Banking) là một sản phẩm ứng dụng của thương mại điện tử vào trong hoạt động của ngân hàng.
Phân loại ngân hàng điện tử a) Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại - Phone banking: Là hệ thống trả lời tự động khi KH có nhu cầu tham khảo các thông qua điện thoại. Khi đó, KH sẽ tự động thao tác ấn phím điện thoại theo mã số mà từng NH cài đặt sẵn. Sau đó, hệ thống sẽ đưa ra các thông tin được cài đặt sẵn, dựa vào phím tắt mà KH yêu cầu. - Mobile Banking và SMS Banking: Là kênh phân phối của NH thông qua điện thoại di động.
Các thông tin về truy vấn biến động tài khoản, thông báo định kỳ sẽ được tra cứu qua tin nhắn điện thoại của KH chỉ với một cú pháp nhất định. Bên cạnh đó, điện thoại di động hiện nay có thể kết nối với các thiết bị không dây, giúp việc truy cập mạng trở nên dễ dàng hơn. Nhờ vào đó, các NHTM đã phát triển những phần mềm, ứng dụng Mobile Banking thích hợp, giúp KH dễ dàng cài đặt trên máy điện thoại để thực hiện các giao dịch. - Call Center: Là điện thoại cố định mà khi KH có thể gọi tới khi có bất cứ yêu cầu nào liên quan tới tài khoản của mình.
Dịch vụ này cung cấp cho KH những thông tin chuẩn xác và kịp thời, do người trực máy chính là nhân viên của NH. Điều này giúp cho KH được tư vấn chính xác với trường hợp mà chính mình đang gặp phải. Tuy nhiên, nhược điểm của hình thức này chính là cần có người trực tổng đài vào mọi thời gian, kèm với đó là khi có quá nhiều cuộc gọi thì đôi khi KH sẽ không được kết nối ngay. b) Dịch vụ ngân hàng qua hệ thống mạng Internet Banking: Là dịch vụ giúp KH giao dịch bằng tài khoản của mình qua mạng.
Để thực hiện, KH cần truy cập vào trang website của NH, rồi lựa chọn các tiện ích được hiện thị sẵn trên trang chủ. Internet Banking, cũng tương ứng giống với phiên bản Mobile Banking cung cấp những thông tin về truy vấn số dư, tra và tải thông tin sao kê, lãi suất tiết kiệm, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, nạp tiền, thay đổi các thông tin liên hệ,… 6 c) Dịch vụ thẻ Thẻ được sử dụng như một phương tiện, hình thức lưu trữ tiền mặt, cũng phục vụ cho việc thanh toán, rút tiền,… Hiện nay, thẻ đang là một trong những hình thức sử dụng phổ biển. Dịch vụ thẻ được chia ra làm 3 loại thẻ cơ bản: - Thẻ ghi nợ: Thẻ cho phép KH sử dụng số tiền tối đa bằng với số tiền mà KH có sẵn trong thẻ, tài khoản thanh toán của mình. Tổ chức phát hành thẻ ghi nợ nội địa chủ yếu là Napas, và thẻ ghi nợ quốc tế được phát hành bởi các tổ chức nước ngoài như MasterCard, Visa, JCB,… - Thẻ tín dụng: Thẻ cho phép KH chi tiêu trước, trả tiền sau.
NH sẽ cung cấp cho KH một hạn mức nhất định để tiêu dùng, và KH có nghĩa vụ phải thanh toán số tiền đó theo như sao kê hàng tháng. Các tổ chức phát hành thẻ tín dụng quốc tế phổ biến hiện nay là Visa, Mastercard, JCB, UnionPay… - Thẻ trả trước: bao gồm những thẻ như thẻ du lịch, thẻ giải trí mà NH mở để liên kết với các tổ chức, cửa hàng khác. d) Máy rút tiền tự động ATM Máy rút tiền tự động hiện vẫn đang là một trong những thiết bị thông dụng, được sử dụng phổ biến tại Việt Nam. Thông qua việc đọc mã thẻ, ATM giúp KH rút, chuyển tiền, truy vấn số dư.
Cho tới bây giờ, các cây ATM đã được nâng cấp lên, cập nhật nhiều tính năng mới như: nộp tiền mặt vào tài khoản, gửi tiết kiệm online, rút tiền thông qua mã QR,… Máy ATM đem lại rất nhiều tiện lợi khi KH cần rút tiền mặt để thanh toán tại những nơi không thanh toán qua thẻ, chuyển khoản. Tuy nhiên, việc duy trì một cây ATM tốn khá nhiều chi phí: chi phí lắp đặt, chi phí bảo dưỡng, chi phí di chuyển để đưa tiền mặt đến từng cây ATM,… Tuy nhiên, đây vẫn là lựa chọn của nhiều người khi họ chưa tiếp cận nhiều tới công nghệ thông tin. e) Thanh toán qua máy POS POS được dùng để chỉ các điểm phân phối hàng hóa, mà ở đó có hệ thống ghi nhận lại các giao dịch hàng hóa. Thông qua việc sử dụng kết nối giữa máy quẹt thẻ với thẻ của NH, hệ thống sẽ tự động trích tiền trong tài khoản của KH để trả tiền 7 cho người bán.
Ngoài ra, đây cũng là một hình thức để KH rút tạm ứng tiền mặt tại bất kì điểm chấp nhận thẻ nào. Vai trò của ngân hàng điện tử a) Đối với KH: Đem lại sự tiện lợi: Sự ra đời của NHĐT đã đem lại sự tiện ích vô cùng to lớn đối với những người đang sử dụng dịch vụ tại NH. Những giao dịch đơn giản như chuyển tiền, thanh toán hoá đơn, gửi tiết kiệm,. giờ đây có thể được thực hiện ở bất cứ mọi nơi.
Bản thân KH có thể chủ động thực hiện những giao dịch thông qua ngân hàng điện tử, cho dù lượng tiền giao dịch là lớn hay nhỏ. Tiết kiệm thời gian: Đặc biệt đối với những người bận rộn, có ít thời gian để có thể tới quầy giao dịch, thì việc sử dụng E-banking giúp tiết kiệm được rất nhiều thời gian. Chỉ bằng những thao tác trên điện thoại, mạng Internet, mọi người đã có thể đơn giản hoá quy trình đến NH, xếp số, chờ đợi đến lượt giao dịch của mình. Tiết kiệm chi phí: Giao dịch truyền thống không chỉ làm tốn thời gian mà còn tốn chi phí cho KH.
Khi đó, KH cần phải đi đến điểm giao dịch gần nhất để có thể thực hiện giao dịch dịch vụ mình mong muốn. Điều này làm tăng chi phí đi lại mỗi khi KH có nhu cầu. Ngoài phí đi lại, KH cũng phải trả chi phí dịch vụ. Tuy nhiên, việc giao dịch trực tuyến phần nào giúp cắt giảm được chi phí cho người dùng, đặc biệt là chi phí đi lại.
b) Đối với NH: Giúp thu hút được lượng lớn KH: Dịch vụ NHĐT mở ra một kênh phân phối mới cho NH. Nhờ đặc tính của NHĐT, NH có thể phát triển được mạng lưới, tệp KH của mình, tiếp cận tới KH mọi lúc, mọi nơi, dù ở bất cứ đâu. Thông qua NHĐT, các tiện ích, các dịch vụ mới đều được giới thiệu, quảng bá một cách nhanh chóng hơn mà không cần tốn nhiều chi phí quảng cáo ở bên ngoài. Tăng doanh thu, giảm chi phí: Việc E-Banking được sử dụng rộng rãi giúp cho NH tiết kiệm được một phần chi phí so với giao dịch truyền thống.
Sản phẩm mới có thể tiếp cận tới KH bằng chính những hình ảnh giới thiệu ngay trên website NHĐT. Việc này không chỉ cắt giảm chi phí quảng cáo, mà còn giúp sản phẩm 8 được nhận biết nhanh hơn. Thông qua NHĐT, NH có thể phục vụ nhiều người cùng một lúc, ở mọi nơi, mọi tỉnh thành với mức chi phí thấp hơn so với giao dịch truyền thống. Ngoài ra, việc thúc đẩy sử dụng NHĐT, số lượng tiền huy động không kì hạn tại NH cũng tăng lên đáng kể.
Chi phí trả lãi cho lượng tiền huy động này thấp hơn rất nhiều so với chi phí trả lãi tiền gửi tiết kiệm có kì hạn, điều này cũng giúp giảm chi phí cho NH. Không chỉ giảm chi phí, việc NHĐT được sử dụng rộng rãi còn đem lại doanh thu cho NH. Tại một vài NH, một khoản phí duy trì tài khoản, phí chuyển khoản liên ngân hàng sẽ được trừ vào tài khoản thanh toán của KH khi KH đăng kí, sử dụng dịch vụ trên. Đem lại hiệu quả trong việc kiểm soát: NH không chỉ thu hút được KH, tăng doanh thu, giảm chi phí mà còn có thể kiểm soát được các giao dịch của chính KH đó tại ngân hàng chi nhánh mình.
Các giao dịch của KH sẽ được hiện thị trên hệ thống, kiểm soát thông qua sao kê tài khoản cá nhân. Việc này có thể giúp cho NH kiếm tra được dòng tiền ra, vào của tài khoản thanh toán của KH, tránh được, giúp phát hiện, tránh được các trường hợp phạm pháp như rửa tiền. c) Đối với nền kinh tế: Ngoài việc đem lại những lợi ích cho các bên tham gia sử dụng, cung cấp dịch vụ, NHĐT còn đem lại ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế nước nhà.