Chương 1- Cơ sở lý luận của việc phát triển ngành công nghiệp phụ trợ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Chương 2 – Phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành sản xuất ôtô của một số nước châu Á. Chương 3 – Đánh giá công nghiệp phụ trợ cho ngành sản xuất ôtô của Việt Nam thời gian qua. Chương 4 - Một số giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành sản xuất ôtô của Việt Nam.
8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Khái quát về công nghiệp phụ trợ 1. Khái niệm Thuật ngữ công nghiệp phụ trợ (CNPT) được sử dụng khá rộng rãi nhưng cho đến nay khái niệm thế nào là CNPT, chuẩn quan niệm và cách hiểu thống nhất về CNPT vẫn chưa được hình thành. Khái niệm CNPT (Supporting Industry) bắt nguồn từ Nhật Bản vào khoảng giữa những năm 1980.
Tài liệu chính thức đầu tiên sử dụng thuật ngữ này là Sách trắng về Hợp tác kinh tế năm 1985 của Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế (MITI) Nhật Bản (MITI đã đổi tên thành METI – Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp - từ tháng 1/2001). Trong tài liệu này, thuật ngữ CNPT được dùng để chỉ “các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) có đóng góp cho việc phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước châu Á trong trung và dài hạn” hay “các SME sản xuất linh phụ kiện”. Mục đích của MITI tại thời điểm đó là thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và phát triển SME ở các nước ASEAN, đặc biệt là ASEAN 4 (gồm Indonesia, Malaysia, Philipines và Thái Lan). Hai năm sau đó, MITI giới thiệu thuật ngữ CNPT với các nước Châu Á trong Kế hoạch Phát triển Công nghiệp Châu Á mới (được biết đến với tên gọi New AID Plan).
Đây là chương trình hợp tác kinh tế toàn diện trên ba phương diện: viện trợ, đầu tư và thương mại. Trong chương trình này, CNPT chính thức được định nghĩa là “các ngành công nghiệp cung cấp những gì cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh phụ kiện và hàng hóa tư bản cho các ngành công nghiệp lắp ráp” [3,tr. Trong định nghĩa này, phạm vi của CNPT là các 9 ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa trung gian và hàng hóa tư bản cho công nghiệp lắp ráp, không phân biệt quy mô doanh nghiệp. Bên cạnh đó, có nhiều quan điểm cho rằng CNPT bao gồm những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất một loại sản phẩm công nghiệp nhất định nào đó.
Tùy từng loại sản phẩm cụ thể sản xuất, những sản phẩm hỗ trợ đó có thể bao gồm nguyên liệu chính, vật liệu phụ, linh kiện, phụ tùng, các bộ phận (chi tiết) lẻ, nhiên liệu, phụ liệu, bao bì nhãn mác. Những sản phẩm hỗ trợ đó chính là một trong những loại yếu tố “đầu vào” của quá trình sản xuất công nghiệp. Do tính phức tạp của mối liên hệ sản xuất giữa các ngành công nghiệp, việc xác định loại CNPT của một ngành nào đó mang tính chất tương đối, để sản xuất sản phẩm CNPT lại cần có các ngành CNPT cho bản thân nó. Như vậy, CNPT là một thuật ngữ mơ hồ, nếu không có một định nghĩa cụ thể thì không thể xác định được đó là ngành công nghiệp nào và hỗ trợ cái gì, cho ai.
Tùy thuộc vào mục đích sử dụng của các nhà hoạch định chính sách mà phạm vi của CNPT nêu trong các chính sách, chiến lược công nghiệp rất khác nhau. Thái Lan định nghĩa CNPT là các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện được sử dụng trong các công đoạn lắp ráp cuối cùng của các ngành công nghiệp sản xuất ôtô, máy móc và điện tử [3, tr. Trong khi đó bộ năng lượng Mỹ lại định nghĩa CNPT là những ngành công nghiệp cung cấp nguyên liệu và quy trình cần thiết để sản xuất ra sản phẩm trước khi chúng được đưa ra thị trường[3, tr. Mối liên hệ sản xuất giữa các ngành công nghiệp tồn tại như một tất yếu khách quan.
Trình độ phát triển công nghiệp càng cao, phân công lao động xã hội càng sâu sắc, mối liên hệ sản xuất đó càng phức tạp. Trong hoạch định chiến lược và chính sách công nghiệp của một quốc gia, việc xử lý quan hệ giữa 1 một ngành công nghiệp nào đó với các ngành phụ trợ của nó là vấn đề hết sức phức tạp. Mỗi quốc gia có cách thức riêng trong việc giải quyết mối quan hệ này. Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay khó có thể áp dụng bất kỳ khái niệm sẵn có nào về CNPT của nước ngoài vì sự khác biệt về điều kiện kinh tế, trình độ phát triển và những thách thức mà mỗi nước phải đối mặt trong nền kinh tế toàn cầu.
Việt Nam với nguồn ngân sách có hạn, nền móng công nghiệp chưa phát triển, và dưới áp lực hội nhập và cạnh tranh quốc tế, khái niệm hạt nhân là phù hợp hơn cả để huy động được mọi nguồn lực cho sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ. Theo tác giả Nguyễn Thị Xuân Thúy tại Diễn đàn phát triển Việt Nam – Kyoto: CNPT là một nhóm các hoạt động công nghiệp cung cấp các đầu vào trung gian (gồm linh kiện, phụ tùng và công cụ để sản xuất ra các linh kiện phụ tùng này) cho các ngành công nghiệp lắp ráp và chế biến[3, tr. Trần Văn Thọ, khi nghiên cứu về CNPT, ông định nghĩa CNPT (supporting industries) là khái niệm chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính. Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm, v., và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế.
Nếu kể các sản phẩm tương tự thì phạm vi sẽ rất rộng nhưng nếu thêm một đặc tính nữa sẽ thấy phạm vi rõ ràng hơn: Sản phẩm CNPT thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do đó, trong ngành ôtô, các bộ phận như động cơ, thân vỏ, chassis (khung gầm). thường không được kể là CNPT vì chủ yếu do các công ty lớn sản xuất với quy mô lớn. Trong ngành này, CNPT là những linh kiện, những phụ liệu ở cấp thấp hơn được cung cấp để sản xuất ra động cơ, thân vỏ.
1 Do các quan niệm khác nhau về CNPT, việc hiểu và vận dụng đúng khái niệm này trong các chính sách công nghiệp thường gặp nhiều khó khăn. Xem CNPT là những ngành sử dụng công nghệ thấp là một quan niệm sai lệch thường thấy ở các nước đang phát triển, dẫn đến không có các chính sách và đầu tư thỏa đáng. Trên thực tế, tùy vào mục tiêu và chiến lược mà khái niệm CNPT được hiểu, sử dụng hay tiếp nhận. Công nghê ̣g sản xuất, lắp ráp ôtô bao gồ m: (1) Công nghệ nguyên vật liệu; (2) Công nghệ chế tạo linh kiện ; (3) Công nghệ lắp ráp cụm ; (4) Công nghệ hoàn thành sản phẩm.
Trong đó , các bước công nghệ (1),(2),(3) là lĩnh vực công nghê ̣g sản xuất của công phụ trơ ̣g phục vụ cho ngành sản xuất, lắp ráp ôtô. nghiêp̣g Bướ c công nghê ̣g (4) là phần lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh. Sơ đồ công nghê ̣g sản xuất, lắp ráp ôtô như sau: Hình 1. Sơ đồ công nghê ̣vsả n xuấ t , lắ p rá p ôtô Công nghệ lắp ráp ô tô Công nghệ vật liệu Công nghệ chế tạo Lắ p cuṃtổ ng thà nh Thép và gang - Đúc kim loại, Khung, vỏ Nhựa hoá học nhựa, cao su, Động cơ, ly hợp, hộp số Kính, đệm cao su - Gia công áp lực, Trục truyền Sợi, gỗ, chất kết gia công chính xác, Bánh xe dính thuỷ lực Điện, ghế đệm Kim loaị màu Chế tạo cắt gọt, Lái, phanh, treo, gương Vải, cao su Kỹ thuâṭ điêṇ , điêṇ kính Vâṭ liêụ khá c tử ,.
Lắp ráp tổng thành ôtô 1 Theo các bước công nghệ trên, CNPT cho sản xuất, lắp ráp ôtô chủ yếu tập trung vào bước công nghệ (2) Công nghệ chế tạo và (3) Lắp ráp tổng thành. Riêng công nghệ vật liệu còn hạn chế, mới dừng lại một số sản phẩm như cao su (săm, lốp), vải. Do đó, CNPT sản xuất, lắp ráp ôtô Việt Nam mới dừng lại ở sản xuất một số linh kiện, phụ tùng mà nguyên liệu chủ yếu nhập khẩu. Đặc điểm Đối với Việt Nam, CNPT vẫn là ngành mới mẻ.
Việc xác định đúng đắn các đặc điểm của CNPT là vấn đề quyết định đến nhận thức của Nhà nước, của các doanh nghiệp đối với sự quan trọng của CNPT, và cũng là để tận dụng được lợi ích mà CNPT mang lại. Trước hết, CNPT bao quát toàn bộ những cơ sở công nghiệp làm ra các sản phẩm có vai trò hỗ trợ việc sản xuất các thành phẩm chính và được tiến hành tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây là hai thuộc tính đặc trưng của CNPT. Ngoài ra, CNPT còn có một số đặc điểm rất cần quan tâm nghiên cứu sau đây: CNPT là ngành phức tạp và rộng lớn, góp phần tạo nên chuỗi giá trị.
Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, các sản phẩm sản xuất ra ngày càng tinh vi hơn, mỗi sản phẩm lại có vô số các chi tiết hợp thành. Một doanh nghiệp dù lớn đến mức nào cũng không thể và không nên tự mình sản xuất khép kín một sản phẩm. Do đó, để sản xuất một sản phẩm hoàn chỉnh cần sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, của nhiều ngành khác nhau. Điều đó dẫn đến CNPT có phạm vi rất rộng, cả về mặt liên kết ngành hay địa lý.
Thêm vào đó, khi một ngành công nghiệp sản xuất hay lắp ráp một sản phẩm nhất định phát triển, nó cần có một hệ thống các ngành CNPT để cung cấp các chi tiết sản phẩm đó. Mặt khác, các doanh nghiệp được coi là phụ trợ cho sản phẩm đó lại cần các doanh nghiệp khác “phụ trợ”. Vì vậy để có hệ thống các ngành CNPT, ngoài việc phải phát triển các ngành công nghiệp cơ 1 bản (cao su, nhựa, cơ khí, năng lượng…) lại cần có sự phát triển của các ngành CNPT khác nữa. Như vậy, chỉ với một sản phẩm, chuỗi giá trị đã kéo dài và mở rộng ra hầu hết các ngành công nghiệp cơ bản và tạo ra giá trị cho nhiều ngành công nghiệp khác.
Mối quan hệ giữa CNPT trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đối với các nước đang phát triển, CNPT và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có quan hệ mật thiết với nhau, tương hỗ lẫn nhau và thể hiện trên nhiều khía cạnh.