Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TẠI ĐỊA PHƯƠNG 1. Khái niệm và vai trò của công nghiệp hỗ trợ 1. Các khái niệm về công nghiệp hỗ trợ Khái niệm công nghiệp hỗ trợ được định nghĩa khác nhau giữa các nước và các tổ chức khác nhau, với cách nhìn và mục tiêu khác nhau trong phát triển ngành này. Ở Nhật Bản, thuật ngữ CNHT ban đầu được dùng để chỉ: ‘Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có đóng góp cho sự phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước Châu Á trong trung và dài hạn”.
Sau đó, định nghĩa chính thức của quốc gia về công nghiệp hỗ trợ được bộ Kinh tế, thương mại và Công nghiệp Nhật Bản đưa ra vào năm 1993: “Công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh kiện và vốn. cho các ngành công nghiệp lắp ráp (bao gồm ô tô, điện và điện tử). Tuy nhiên, nó không được định nghĩa rõ ràng mà chỉ được hiểu là bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần tăng cường cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước Châu Á trong trung và dài hạn hay là các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất phụ tùng và linh kiện. Trên đây là những cách hiểu về công nghiệp phụ trợ ở các nước có nền công nghiệp phát triển, vậy thuật ngữ này được hiểu như thế nào ở các nước có nền công nghiệp đang phát triển.
Lấy ví dụ điển hình là Thái Lan, một trong những nước có nền CNHT phát triển nhất trong khu vực Đông Nam Á, Cục phát triển công nghiệp phụ trợ nước này (BSID) định nghĩa“Công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp cung cấp linh kiện, phụ kiện, máy móc, dịch vụ đóng gói và dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản”. Đây là khái niệm khá tương đồng với khái niệm CNHT của Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Xem xét cách định nghĩa của các nước tiêu biểu có thể thấy rằng mặc dù từ ngữ có thể khác nhau, nhưng vẫn có những điểm tương đồng trong cách hiểu về CNPT như sau: Thứ nhất, đó là ngành công nghiệp, nghĩa là có sự kết hợp nhân tố con người và máy móc trong môi trường làm việc có tính chuyên môn hóa cao và trình độ nhất định. Thứ hai, sản phẩm của CNHT là các sản phẩm trung gian và các tư liệu sản xuất.
Lấy ví dụ như trong quá trình sản xuất các sản phẩm điện tử gia dụng thì các bộ phận sản xuất như: các bộ phận bằng nhựa và kim loại được gọi là các sản phẩm trung gian. Còn máy móc công cụ được dùng để sản xuất ra các bộ phận trung gian đó gọi là tư liệu sản xuất. Điều này để phân biệt với sản phẩm tự nhiên vì sản phẩm tự nhiên là các nguyên vật liệu thô có sẵn trong tự nhiên. Xét về tổ chức kinh doanh, ngành CNHT phát triển ở ba loại hình doanh nghiệp: Thứ nhất là các nhà cung cấp linh kiện bộ phận và công cụ máy móc được đặt ở nước ngoài để tận dụng các ưu đãi đầu tư và phát huy tính kinh tế trong chuyên môn hóa.
Thứ hai là các nhà cung cấp linh kiện bộ phận và các công cụ máy móc của nước ngoài đặt ở thị trường nội địa. Thứ ba là các nhà cung cấp linh kiện bộ phận và công cụ máy móc ở trong nước mà thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khách hàng của các ngành CNHT là các nhà lắp ráp trong nước và nước ngoài đặt ở thị trường trong nước và các nhà lắp ráp nước ngoài đặt ở thị trường nước ngoài (trường hợp xuất khẩu linh kiện bộ phận máy móc). Các nhà lắp ráp nước ngoài thường là các công ty đa quốc gia.
Nhìn chung, các khái niệm về CNHT trên đây đều nhấn mạnh tầm quan trọng của các ngành công nghiệp sản xuất đầu vào cho thành phẩm. Tuy nhiên mỗi khái niệm xác định một phạm vi khác nhau cho ngành công nghiệp nay. Nếu không định nghĩa một cách cụ thể thì không thể xác định được đó là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 ngành công nghiệp nào và hỗ trợ cho cái gì, cho ai. Phạm vi của CNHT nêu trong các chính sách, chiến lược công nghiệp rất khác nhau, tùy thuộc vào mục đích sử dụng của các nhà hoạch định chính sách.
Thuật ngữ này càng được định nghĩa cụ thể bao nhiêu thi việc hoạch định chính sách càng trở nên dễ dàng hơn, và các chính sách đó cũng có tính khả thi cao hơn. Kể từ khi thuật ngữ “Công nghiệp phụ trợ” được nhắc đến trong Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản, chính thức thông qua vào năm 2003, nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong việc thu hút dòng vốn FDI, người ta mới bàn luận nhiều về ngành công nghiệp này. Tuy vậy, khái niệm về CNHT vẫn còn mơ hồ, thậm chí các cơ quan nhà nước hữu quan cũng chưa thực sự hiểu rõ về bản chất của ngành CNHT. Thêm vào đó, hiện nay trong hệ thống luật pháp vẫn chưa có định nghĩa về CNHT.
Trước năm 2010, thuật ngữ CNHT ở Việt Nam được sử dụng chủ yếu trong các chỉ thị, công văn chỉ đạo của thủ tướng chính phủ. Chỉ thị số 47/2004/ về các giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu có đề ra nhiệm vụ trong năm 2005: “Tập trung phát triển các công nghiệp hỗ trợ để tăng cường khả năng cung ứng nguyên vật liệu, bán thành phẩm, phụ liệu đầu vào trong nước cho sản xuất hàng công nghiệp xuất khẩu và thúc đẩy mối quan hệ bổ trợ liên ngành giữa các ngành công nghiệp…”. Đặc biệt, nội dung phát triển công nghiệp đã được đề cập trong quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam (quyết định số 73/2006/QĐ - TTg ngày 4/4/2006 về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam theo các vùng lãnh thổ đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020) CNHT trở thành một trong những nội dung chính đối với kế hoạch tổng thể phát triển công nghiệp điện tử Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến 2020 (Quyết định số 75/2007/QĐ - TTg ngày 28/05/2007). Ngày 31/07/2007, Bộ công nghiệp ra quyết định số 37/2007/QĐ - BCN phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Nội dung quy hoạch chủ yếu nêu ra các ngành cần tập trung phát triển CNHT, gồm: dệt - may, da giầy, điện tử - tin học, sản xuất và lắp ráp ô tô, cơ khí chế tạo. Bộ công thương sau nhiều lần trình duyệt và sửa đổi, ngày 22 tháng 02 năm 2011, thủ tướng chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 12/2011/QĐ- TTg về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ với một số định nghĩa như sau: Công nghiệp hỗ trợ: là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng. Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ: là sản phẩm của các ngành quy định tại khoản 1 điều 1 gồm: vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm sản xuất tại Việt Nam để cung cấp cho khâu lắp ráp, sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh. Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ: là dự án đầu tư tại Việt Nam (kể cả đầu tư mới và đầu tư bổ sung) để sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.
Đây được coi là lời tuyên bố chính thức đầu tiên của chính phủ Việt Nam sự ủng hộ dành cho CNHT, tạo khung pháp lý cơ bản cho sự hình thành và phát triển của lĩnh vực này. Quyết định này quy định các chính sách khuyến khích, ưu đãi phát triển CNHT đối với các ngành cơ khí chế tạo, điện tử - tin học, sản xuất lắp ráp ô tô, dệt - may, da - giầy và công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao. Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ * Có hiệu quả tăng dần theo quy mô Hiệu quả tăng dần theo quy mô có nghĩa là nếu có một sự gia tăng đầu vào theo một tỷ lệ nào đó sẽ dẫn đến sự gia tăng đầu ra với tỷ lệ cao hơn. Các ngành CNHT như tạo khuôn mẫu, gia công kim loại, ép nhựa cần nhiều vốn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 để đầu tư vào máy móc đắt tiền.
Hơn nữa, những máy móc này lại không thể chia nhỏ được tức là không thể mua từng phần mày móc được. Một khi đã đầu tư hệ thống máy móc thì chi phí vốn cho nhà máy sẽ vẫn luôn ở một mức cố định cho dù hệ thống này được vận hành liên tục 24 giờ một ngày và 365 ngày một năm, hay chi vận hành trong một khoảng thời gian nhất định. Do vậy, chi phí vốn đơn vị sẽ tỷ lệ nghịch với lượng sản phẩm đầu ra. Vì vậy, CHNT là một ngành có hiệu quả tăng dần theo quy mô và để một doanh nghiệp hỗ trợ có thể tồn tại thì phải sản xuất phải đạt đến một mức sản lượng nhất định.
CNHT là ngành sử dụng nhiều vốn, ít công lao động nên sẽ có chi phí đơn vị giảm dần theo quy mô sản lượng. * Lao động làm việc trong ngành CNHT thường đòi hỏi chuyên môn cao Lao động làm việc trong ngành CNHT đòi hỏi chuyên môn cao vì các ngành CNHT thường là các ngành công nghiệp sản xuất các chi tiết nhỏ, đòi hỏi có sự chính xác và tỉ mỉ cao. Nếu như các doanh nghiệp lắp ráp sử dụng nhiều nhân công không đòi hỏi trình độ cao để lắp ráp các bộ phận, thì lao động ở các doanh nghiệp CNHT phần lớn đòi hỏi có trình độ cao hơn, thường là các nhà vận hành máy móc, kiểm soát viên về chất lượng sản phẩm, các kỹ thuật viên và các kỹ sư. Máy móc trong các ngành CNHT thường phức tạp hơn trong vận hành và các chi tiết, phụ kiện càng tinh xảo, phức tạp thì máy móc đòi hỏi công nghệ càng phải hiện đại, và người vận hành càng cần phải có trình độ để có khả năng vận hành.
Đây là một điểm yếu của các nước đang phát triển vì phần lớn các nước này thường là các nước có nguồn lao động dồi dào nhưng phần lớn lao động là lao động thủ công, trình độ chuyên môn nghiệp vụ thường hạn chế.