Tổng quan nghiên cứu

Quá trình Đổi mới từ năm 1986 đã mang lại những bước chuyển mình vượt bậc cho Việt Nam, đưa tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước giảm mạnh từ mức khoảng 70% trong những năm trước Đổi mới xuống còn 14,2% vào năm 2010 và tiếp tục giảm xuống mức 9,2% vào năm 2013. Đồng thời, tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 1.168 USD, chính thức đưa Việt Nam gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp và đạt mức phát triển con người trung bình trên trường quốc tế. Tuy nhiên, khi bước vào thế kỷ XXI, làn sóng toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức đã đặt ra những bài toán mới vô cùng phức tạp đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của đề tài tập trung vào mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển con người toàn diện với những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, biểu hiện qua sự gia tăng phân hóa giàu nghèo, nguy cơ xói mòn bản sắc văn hóa và sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận triết học về phát triển con người và toàn cầu hóa, phân tích thực trạng phát triển người Việt Nam trên ba phương diện sinh thể, trí tuệ và tâm lực trong giai đoạn từ sau Đổi mới đến năm 2014, từ đó luận giải hệ thống giải pháp mang tính chiến lược nhằm thúc đẩy sự nghiệp phát triển con người bền vững.

Ý nghĩa của nghiên cứu được đo lường qua việc góp phần cải thiện chỉ số phát triển con người quốc gia, khi giai đoạn 1999 - 2012 chỉ số này đã tăng thêm 10,75% nhưng tốc độ cải thiện có xu hướng chậm lại ở cấp địa phương. Đề tài cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc phục vụ công tác hoạch định chính sách an sinh xã hội, giáo dục và y tế của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kế thừa và kết hợp giữa học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin và cách tiếp cận hiện đại về phát triển con người của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc. Theo quan điểm mácxít, con người vừa là sản phẩm vừa là chủ thể sáng tạo của lịch sử, trong đó bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội. Mục đích tối thượng của sự phát triển xã hội là khắc phục sự tha hóa lao động nhằm hướng tới sự giải phóng toàn diện, bảo đảm "sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người".

Bên cạnh đó, luận văn tiếp thu mô hình lý thuyết của các nhà kinh tế học tiên phong như Amartya Sen và Mahbub Ul Haq do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc khởi xướng từ năm 1990. Khung lý thuyết này khẳng định phát triển con người là quá trình mở rộng các cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực thực tế của người dân, lấy con người làm trung tâm thay vì chỉ chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Ba khái niệm nòng cốt được vận dụng xuyên suốt công trình gồm có:

  • Năng lực sinh thể: Thể hiện qua sức khỏe, thể lực, thể trạng vật lý và tuổi thọ bình quân của dân cư, được bảo đảm bởi điều kiện dinh dưỡng, y tế và mức sống vật chất.
  • Trí lực: Phản ánh trình độ học vấn, năng lực nhận thức logic, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng sáng tạo tri thức đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức.
  • Tâm lực: Bao hàm đời sống tinh thần, phẩm chất đạo đức, lý tưởng cách mạng, thẩm mỹ và bản lĩnh văn hóa trước các luồng tư tưởng ngoại lai.
  • Toàn cầu hóa: Khái niệm được George Modelski định nghĩa từ năm 1972 và phát triển thành một xu thế khách quan của sự gia tăng liên kết kinh tế, chính trị, văn hóa xuyên biên giới.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện thu thập từ các Báo cáo phát triển con người của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc các năm 1990, 2011, Tổng cục Thống kê Việt Nam giai đoạn 1990 - 2013, các Báo cáo kinh tế của Ngân hàng Thế giới và hệ thống Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc từ Đại hội VII đến Đại hội XI. Cỡ mẫu khảo sát bao trùm toàn bộ các chỉ số thống kê vĩ mô cấp quốc gia tại 63 tỉnh thành, kết hợp phân tích chuyên sâu tại 62 huyện nghèo thuộc diện hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo chủ trương của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp chặt chẽ với các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích logic, tổng hợp lý thuyết, thống kê mô tả và so sánh đối chiếu đa biến. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì phát triển con người là một quá trình vận động phức tạp, mang tính lịch sử cụ thể và chịu sự chi phối đa chiều từ các quy luật kinh tế - xã hội; việc phân tích định lượng kết hợp định tính giúp làm sáng tỏ mối liên hệ biện chứng giữa thể lực, trí lực và tâm lực trong từng nấc thang phát triển của đất nước suốt giai đoạn 1986 - 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, năng lực sinh thể của người Việt Nam đã có sự cải thiện vượt bậc nhờ những thành tựu phát triển kinh tế và giảm nghèo bền vững. Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước giảm đều đặn từ khoảng 70% trước Đổi mới xuống còn 11,3% vào năm 2012 và đạt mức 9,2% vào năm 2013. Tuổi thọ trung bình của người dân được nâng lên trên 73 tuổi, đưa Việt Nam xếp thứ 35 trên tổng số 121 quốc gia về mức độ bình an theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới.

Thứ hai, cơ cấu đóng góp vào chỉ số phát triển con người còn bộc lộ sự mất cân đối rõ rệt. Giai đoạn 1999 - 2012, chỉ số phát triển con người của Việt Nam tăng trưởng tổng cộng 10,75 điểm phần trăm. Tuy nhiên, tính riêng trong năm 2012, trụ cột kinh tế đóng góp tới 60,9% vào chỉ số tổng hợp, trong khi trụ cột y tế chỉ đóng góp 26,3% và trụ cột giáo dục chỉ chiếm 12,8%. Điều này phản ánh thực tế là chất lượng nguồn nhân lực và việc hưởng thụ giáo dục chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Thứ ba, trí tuệ và kỹ năng nghề nghiệp của lực lượng lao động còn nhiều hạn chế trước làn sóng kinh tế tri thức. Mặc dù tỷ lệ người lớn biết chữ đạt trên 94%, nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật có văn bằng, chứng chỉ chỉ đạt khoảng 16,6% vào năm 2012. Tình trạng thừa thầy thiếu thợ, năng lực tư duy sáng tạo và khả năng ứng dụng công nghệ cao còn yếu kém khiến năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn đáng kể so với mức bình quân của khu vực.

Thứ tư, tâm lực và môi trường văn hóa xã hội đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng giá trị do tác động của lối sống thực dụng. Khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo nhất gia tăng lên mức gần 9,2 lần vào năm 2012. Hiện tượng thương mại hóa văn hóa, sự xâm nhập của các sản phẩm độc hại qua mạng viễn thông và các tệ nạn xã hội đã làm gia tăng tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống ở một bộ phận dân cư, đặc biệt là giới trẻ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của những hạn chế trên xuất phát từ việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa diễn ra nhanh chóng nhưng thể chế quản lý nhà nước và chính sách an sinh xã hội chưa hoàn thiện kịp thời. Sự phân bổ ngân sách cho y tế và giáo dục ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu đồng bộ, dẫn đến tình trạng hai cấp trong việc tiếp cận dịch vụ công cơ bản.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các cảnh báo trong Báo cáo Phát triển Con người năm 2011 của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, khẳng định rằng tăng trưởng kinh tế đơn thuần không đồng nghĩa với phát triển con người bền vững nếu không có chính sách tái phân phối công bằng. Để minh họa trực quan, các dữ liệu này có thể được trình bày thông qua biểu đồ hình tròn thể hiện tỷ trọng đóng góp của 3 trụ cột vào chỉ số phát triển con người năm 2012, kết hợp với bảng số liệu so sánh chuỗi thời gian về tốc độ giảm nghèo và tỷ lệ lao động qua đào tạo giai đoạn 2000 - 2013. Qua đó, các nhà hoạch định chính sách có thể nhận diện rõ nét sự lệch pha giữa tăng trưởng của cải vật chất và sự hoàn thiện nhân cách, trí tuệ con người.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội và dịch vụ y tế công cộng nhằm củng cố năng lực sinh thể cho nhân dân. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Y tế đẩy mạnh thực hiện Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân từ 1,5% đến 2%/năm giai đoạn 2014 - 2020. Đồng thời, triển khai hiệu quả Quyết định số 100/2005/QĐ-TTg về phát triển thể dục thể thao cơ sở, nâng tỷ lệ người dân tập luyện thể thao thường xuyên lên trên 33% vào năm 2020, nâng cao thể lực và tầm vóc người Việt Nam.

Thứ hai, thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao trí lực quốc gia. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI, chuyển mạnh từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có chứng chỉ lên mức 25% vào năm 2015 và đạt trên 35% vào năm 2020, tập trung đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghệ mũi nhọn, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức.

Thứ ba, đẩy mạnh giải quyết việc làm và nâng cao năng suất lao động xã hội. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần hoàn thiện cơ chế thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có chọn lọc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thâm dụng lao động giản đơn sang các ngành có giá trị gia tăng cao. Phấn đấu tạo việc làm mới cho khoảng 1,6 triệu lao động mỗi năm trong lộ trình 2015 - 2020, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo nghề tại doanh nghiệp với nhu cầu thị trường.

Thứ tư, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và bồi dưỡng tâm lực con người Việt Nam. Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tăng cường quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, ngăn chặn tình trạng thương mại hóa và kiểm soát văn hóa phẩm độc hại trên không gian mạng từ nay đến năm 2020. Cần khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức tự lực tự cường và lòng nhân ái, biến các giá trị văn hóa truyền thống thành động lực nội sinh bảo vệ con người trước các tác động tiêu cực của toàn cầu hóa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Luận văn cung cấp căn cứ khoa học giúp Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng các chỉ tiêu phát triển con người lồng ghép trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và Chiến lược phát triển bền vững quốc gia.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Triết học, Xã hội học, Khoa học quản lý: Tài liệu là nguồn tham khảo chuyên sâu phục vụ công tác giảng dạy các học phần về Triết học Mác - Lênin, Lý luận phát triển, Quản lý nguồn nhân lực và phương pháp đánh giá chỉ số phát triển con người.
  • Các tổ chức phát triển quốc tế và tổ chức phi chính phủ: Giúp các chuyên gia của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, Ngân hàng Thế giới nắm bắt bức tranh thực tế về giảm nghèo đa chiều, khoảng cách phát triển vùng miền tại Việt Nam để xây dựng các chương trình tài trợ hiệu quả.
  • Lãnh đạo các doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề: Cung cấp góc nhìn chiến lược về xu hướng biến đổi của lực lượng lao động trong bối cảnh hội nhập quốc tế, giúp doanh nghiệp thiết kế chính sách đãi ngộ và đào tạo nhân sự đáp ứng tiêu chuẩn của Tổ chức Thương mại Thế giới.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn tiếp cận khái niệm phát triển con người theo những chiều kích nào? Công trình tiếp cận phát triển con người theo quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với khung chỉ số của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc. Khái niệm này bao hàm ba chiều kích hữu cơ: năng lực sinh thể (sức khỏe, thể chất), trí lực (học vấn, năng lực nhận thức) và tâm lực (đạo đức, cảm xúc, lối sống).

Đâu là thách thức lớn nhất của toàn cầu hóa đối với con người Việt Nam hiện nay? Thách thức lớn nhất là sự tụt hậu về trình độ trí tuệ và năng lực công nghệ trong nền kinh tế tri thức, cùng với nguy cơ tha hóa nhân cách trước chủ nghĩa thực dụng. Dữ liệu năm 2012 cho thấy tỷ lệ lao động qua đào tạo có chứng chỉ mới đạt khoảng 16,6%, tạo ra bất lợi lớn khi cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Chỉ số phát triển con người của Việt Nam giai đoạn 1999 - 2012 phản ánh điều gì? Chỉ số này tăng trưởng 10,75 điểm phần chứng minh sự tiến bộ xã hội rõ rệt. Tuy nhiên, mức độ đóng góp chưa bền vững khi yếu tố kinh tế chiếm tới 60,9% vào năm 2012, trong khi giáo dục chỉ chiếm 12,8% và tuổi thọ chiếm 26,3%, đòi hỏi phải tăng cường đầu tư cho chất lượng dịch vụ xã hội.

Chính sách giảm nghèo đóng vai trò như thế nào trong sự nghiệp phát triển con người? Giảm nghèo là tiền đề bảo đảm các quyền sống, quyền tự do và quyền phát triển cơ bản của người dân. Việc tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ khoảng 70% trước Đổi mới xuống còn 9,2% năm 2013 đã giải phóng sức sản xuất và tạo điều kiện vật chất để hàng triệu người tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục.

Tại sao luận văn nhấn mạnh giải pháp phát triển đồng bộ ba yếu tố thể lực, trí lực và tâm lực? Vì con người là một chỉnh thể thống nhất, sự suy giảm ở bất kỳ phương diện nào cũng kìm hãm sự phát triển chung. Thể lực là tiền đề vật chất, trí lực là công cụ hành động và tâm lực là động lực tinh thần định hướng hành vi xã hội trong môi trường cạnh tranh toàn cầu.

Kết luận

  • Hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc về con người với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự tiến bộ xã hội.
  • Phân tích toàn diện bức tranh thực trạng phát triển người Việt Nam giai đoạn 1986 - 2014 trên cả ba phương diện năng lực sinh thể, trí tuệ và đời sống tâm lực.
  • Chỉ rõ những thời cơ lịch sử và thách thức gay gắt của toàn cầu hóa, đặc biệt là sự lệch pha giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với chất lượng giáo dục và an sinh xã hội.
  • Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trong lộ trình đến năm 2020.
  • Đóng góp luận cứ khoa học tin cậy phục vụ công tác xây dựng thể chế và chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng.

Đóng góp chính của luận văn là đã đặt vấn đề phát triển con người vào trung tâm của tiến trình toàn cầu hóa tại Việt Nam dưới lăng kính triết học duy vật biện chứng, khắc phục cách nhìn nhận thuần túy kinh tế học. Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan chức năng cần hoàn thiện thể chế an sinh xã hội trong giai đoạn 2015 - 2020 và chuẩn hóa chất lượng nguồn nhân lực đạt chuẩn khu vực vào giai đoạn 2020 - 2030. Các nhà nghiên cứu và quản lý giáo dục hãy tích cực ứng dụng khung giải pháp của công trình để xây dựng các chương trình đào tạo và chính sách phát triển con người Việt Nam toàn diện, vững vàng hội nhập cùng thế giới.