Chương I: Toàn cầu hóa và những vấn để về cơ sở lý luận. Chương 2: Thực trạng tiến trinh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Chương 3: Phương hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. SVTH:Nguyễn Thị Văn Anh Trang- 4 Kha luận tết nghiệ OVHD: Hoàng Xuẳẵn Ding PHẦN NỘI DUNG SVTH:Neuyén Thi Van Anh I.
CÁC KHÁI NIỆM VA CÁC THUYẾT 1.1, CÁC KHÁI NIỆM VỀ TOÀN CAU HÓA, KHU VỰC HÓA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Toàn cầu hóa kinh tế Thuật ngữ toàn cầu hóa (tiếng Anh viết la globalization)xuất hiện đầu tiên trong từ điển tiếng Anh vào năm 1961 và được sử dụng phổ biến từ khoảng cuối thập niên trở lại đây để diễn đạt một nhận thức mới của loài người về một hiện tượng, một quá trình quan trong trong quan hệ quốc tế hiện đại. Có nhiều định nghĩa khác nhau về quan niệm này, chủ yếu gỗm hai loại như sau: a)Loạï quan niệm rộng: Các định nghĩa thuộc loại nay được xác định toàn cầu hóa như là một hiện tượng hay tronh quá trình quan hệ quốc tế làm tang sự tùy thuộc lẫn nhautrén nhiễu mặt của đời sống xã hội (từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóa đến mỗi trường, v.)giữa các quốc gia. Tiến sĩ Jan Aart Scholte đưa ra một khái niệm tổng quát và rộng lớn về khái niệm toàn cầu hóa khi cho rằng đó là “một xu hướng làm cho các mối quan hệ xã hội trở nên ít bị rằng buộc bởi địa lý lãnh thổ". Các nhà phân tích của ban thư kí Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho rằng "toàn câu hóa là một quan niệm có nhiễu mặt vì nó bao quát cả lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị và các hậu quả của sự phân phối”.
Cũng theo tinh than đó tác giả Lê Hữu Nghĩa đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn: “Toàn cẫu hóa xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ của những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau của tất cả các khu vực đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia, các dẫn tộc trên toàn thế giới". b)Loai quan niệm hẹp Nhìn chung, các định nghĩa thuộc loại này xem toàn cau hóa là một khải niệm kinh tế chỉ hiện tượng hay quá trình hình thành thi SVTH:Nguyễn Thị Vin Anh — Trang-5 Khóa ludin tốt nghiện GVHD: Hoàng Xuân Dũng trường toàn cầu làm tăng sự tương tác tùy thuộc lẫn nhau giữa các nên kinh tế quốc gia. Các tác giả thuộc trung tâm Phương Nam cho rằng: “ toàn cầu hóa là sự liên kết các yếu tố sản xuất trong các nước khác nhau dưới sự bảo trợ hoặc sở hữu của các công ty xuyên quốc gia và sự liên kết các thị trương hàng hóa và tài chính được thuận lợi hóa bởi quá trình tự do hóa”. Một số tác giả gắn toàn cầu hóa với khái niệm phát triển.
Theo Bjon Hettne, “ toàn cầu hóa bao hàm sự làm sâu sắc quá trình quốc tế hóa, tăng cường khía cạnh chức năng của phát triển, làm yếu đi khía cạnh lãnh thổ của phát triển. Về cơ bản, toàn cầu hóa bao hàm sự tăng lên của thị trường chức năng thế giới không ngừng xâm nhập và lấn ất các nền kinh tế quốc gia đang trong quá trình mất đi đặc tính quốc gia” Charles P.Oman định nghĩa toàn cầu hóa là “sự tăng lên, hoặc một cách chính xác hơn là sự tăng ngày càng nhanh của các hoạt động kinh tế vượt qua khỏi biên giới của các quốc gia và các khu vực”. Các nhà kinh tế thuộc UNCTAD đưa ra một định nghĩa đấy đủ và cụ thể hơn với quan niệm rằng: “Toan cau hóa liên hệ với các luỗng giao lưu không ngừng tăng lên của hàng hóa và nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành các cấu trúc tổ chức trên phạm vi toàn cầu nhằm quản lý các họat động và giao dịch kinh tế quốc tế không ngừng gia tăng đó”.2 Khu vực hóa Khai niệm khu vực hóa có từ lau, đặc biệt được nghiễn cửu và viết nhiều từ sau chiến tranh thế giới thứ haivdi sự nổi lên xu hưởng các nước tập hợp thành những nhóm khu vực ở nhiễu lĩnh vực khác nhau. Cũng như khái niệm toan cầu hóa, khái niệm khu vực hóa được định nghĩa với nhiều cách khác nhau, chủ yếu theo hai các quan niệm rộng và hẹp.
Theo quan niệm rộng Khái niệm khu vực hóa thường được sử dụng để chỉ một hiện tượng hay khuynh hướng hợp tác hoặc liên kết giữa các nước và hình thành những nhám hoặc tổ chức khu vực họat động trên một hoặc nhiễu lĩnh vực khác nhau, SVTH:Nguyễn Thị Văn Anh Trang- 6 Nhìn chung các nhà lý luận và nghiên cứu gắn khái niệm khu vực hóa với khái niệm liên kết khu vực và các định chế và tổ chức khu vue, b. Theo quan niệm hep: Khái niệm khu vực hóa nhìn chung được để cận như một hiện tượng trong quan hệ kinh tế quốc tế, bao gồm các hoạt động hợp tác kinh tế giữa một số nước tập hợp thành những nhóm khu vực (dưới dạng định chế /tổ chức) có mức độ liên kết kinh tế khác nhau. Như vậy qua các định nghĩa vé hai khái niệm toàn cầu hóa và khu vực hóa có thể thấy cả hai khái niệm trên khi được sử dụng trong các lĩnh vực kinh tế đều chỉ những hiện tượng, quá trình hoặc xu hướng có nội dung về cơ bản giống nhau của quan hệ kinh tế quốc tế. Trước hết, đó là những hiện tượng vượt khỏi biên giới quốc gia, có liên quan đến một số hoặc nhiều nước khác nhau (quốc tế hóa), làm tăng sự liên kết vá tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước này.
Cả hai khái niệm déu dé cập khía cạnh thể chế, tổ chức quản lí và điểu chỉnh các hoạt động quốc tế (thể chế hóa). Điểm khác nhau cơ bản giữa hai khái niệm này là ở qui mô và phạm vi dia lý của quá trình quốc tế hóa và thể chế hóa các hoạt động vượt qua biên giới quốc gia. Khi quá trình này diễn ra giữa hai hoặc nhiều nước trong một khu vực địa lý nhất định, nó gắn với khái niệm khu vực hóa; khi quá trình này có sự tham gia của rất nhiều các quốc gia ở những khu vực địa lý khác nhau, nó được gắn với khái niệm toàn cầu hóa. Xuất phát từ thực tế là có các cách hiểu khác nhau vé các khái niệm toàn cầu hóa và khu vực hóa, trên cơ sở những phân tích như đã trình bày ở trên, chúng tôi thấy cẩn thiết phải đưa ra một cách hiểu thích hợp về các khái niệm để lắm căn cứ chung khi tiếp cận các vấn để có liên quan đến toàn cấu hóa được trình bay trong luận văn này.
Theo chúng tôi các khái niệm toàn cầu hóa và khu vực hóa cẩn được hiểu là quá trình hình thành và phát triển các thị trường toàn cau va khu vực, làm tang sự tương tác và tùy thuộc lẫn nhau, trước hết về kinh tế, giữa các nước thông qua sự gia tăng các nguồn giao lưu hàng hóa và nguấn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình Toàn cau hóa khu vực hóa tuy là hai hiện tượng có những khác biệt nhất định nhưng vé co bản thống nhất với nhau. Có thể xem khu vực hóa là bộ phận của toàn cau hóa, là những bước đi tiến tới toàn cầu hóa. Nói một cách khác khu vực hóa là quá trình toàn cầu hóa từng bộ phận theo khu vực đời sống kinh tế của các quốc gia.3 Hội nhập Cũng như các khái niệm toàn cẩu hóa và khu vực hóa, khái niệm hội nhập xuất phát từ phương Tây. Ở Việt Nam hau như chưa có công trình nghiên cứu lý luận nào về những khái niệm này.
Tuy nhiên trên thế giới, ngay từ nữa cuối thập niên 1950, đặc biệt là cuối thập niên 1960, 1970 đã có nhiều công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hội nhập. Định nghĩa khái niệm này là cả một vấn để không đơn giản. Trên thực tế có không ít các định nghĩa khác nhau về hội nhập va hình như khôngcó định nghĩa nào được thừa nhận một cách tuyệt đối. Nhìn chung các lý thuyết gia vé hội nhập déu gắn với phái chức năng và thiên về định nghĩa khái niệm này như là “một quá trình hướng tới và là sản phẩm cuối cùng của sự thống nhất vé chính trị của các quốc gia riêng lẽ”.
Ở Việt Nam, hội nhập (cách nói gọn của cụm từ “hội nhập kinh tế quôc tế”)còn là một khái niệm khá mới mẽ, được sử dụng nhiều từ giữa thập niên 1990 trở lại đây. Cũng như các thuật ngữ liên kết và nhất thể hóa thuật ngữ hội nhập có chung gốc tiếng Anh là integration. Các thuật ngữ cùng chỉ một khái niệm. Khác biệt chủ yếu giữa chúng là cách dùng với him ý chính trị, lịch sử khác nhau.
Thuật ngữ nhất tể hóa được sử dụng chủ yếu trong bối cảnh hợp tic giữa các nước xã hội chủ nghĩa trong khuôn khổ Hội đẳng tương trợ kinh tế (SEV) trước đây. Thuật ngữ liên kết được sử dụng khá nhiều khi nói về hiện tượng phát triển các qua hệ kinh tế trên cơ sở tự do hóa mậu dịch giữa các nước không phải là xã hội chủ nghĩa đặc biệt trong khuôn khổ các tổ chức kinh tế khu vực cộng đồng kinh tế châu Âu (EC), Thị trường Trung Mỹ (CARICOM). Thuật ngữ hội nhập xuất hiện và được sử dụng phổ biến trong bối cảnh chúng ta xúc tiến mạnh mẽ chính sách đa phương hóa, SVTH:Nguyễn Thị Vân Anh Trang- 8 Theo chúng tôi, hội nhập kinh tế quốc tế #3 qua trình chủ động sắn kết nền kinh tế và thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nổ lực tự do hóa và mở cửa trên các cấp độ đơn nhưng, song phuvingva đa nhường. Như vậy, hội nhập thực chất cũng là sự chủ động tham gia vào quá trình toàn cẩu hóa khu vực hóa.
CÁC THUYẾT CHỦ YẾU LIÊN QUAN TỚI TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ L2.1 Thuyết trọng thương Vào thé ky XV, tư tưởng trọng thương được quảng bá và vận dụng ở châu Âu, thé kỷ XVI, XVII phát triển cực thịnh. Cơ sở tư tưởng của lý luận này là: sức mạnh của một nước chủ yếu là số lượng vàng bạc có được, vì vàng bạc không chỉ là phương tiện thanh toán mà còn là nguồn ngân sách dự trữ phục vụ chiến tranh.