Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN CÂY HỒNG KHÔNG HẠT 1. Cơ sở lý luận về phát triển cây hồng không hạt 1. Lý luận về phát triển sản phẩm nông nghiệp 1. Sản phẩm nông nghiệp Sản phẩm nông nghiệp bao gồm có các sản phẩm như: Gạo, Cà phê, Hạt tiêu, Hạt điều, Hồng không hạt, Cao su, lạc nhân,… và rau quả các loại.
Các sản phẩm nông nghiệp thường là những hàng hóa thiết yếu đối với đời sống và sản xuất của mỗi quốc gia. Quá trình sản xuất, thu hoạch, buôn bán Sản phẩm nông nghiệp mang tính thời vụ bởi vì các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển theo quy luật sinh vật nhất định. Mặt khác, do sự biến thiên về điều kiện thời tiết - khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau. Vào những lúc chính vụ, Sản phẩm nông nghiệp dồi dào, phong phú về chủng loại, chất lượng khá đồng đều và giá bán rẻ.
Ngược lại, lúc trái vụ, hàng nông sản khan hiếm, chất lượng không đồng đều và giá bán thường cao. Sản phẩm nông nghiệp chịu tác động và ảnh hưởng lớn của các điều kiện tự nhiên, đặc biệt là các điều kiện về đất đai, khí hậu, thời tiết. Chúng rất nhạy cảm với các yếu tố ngoại cảnh. Mọi sự thay đổi về điều kiện tự nhiên đều tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi thì cây trồng sinh trưởng và phát triển bình thường, cho sản lượng thu hoạch cao, chất lượng tốt. Ngược lại, nếu điều kiện tự nhiên không thuận lợi như: nắng nóng hoặc giá rét kéo dài gây hạn hán hoặc bão lụt… sẽ gây sụt giảm sản lượng và chất lượng cây trồng. Sản phẩm nông nghiệp có đặc tính tươi sống nên khó bảo quản được trong thời gian dài. Ngoài ra, yếu tố thời vụ của hàng nông sản dẫn đến tính không phù hợp giữa sản xuất và tiêu dùng, do đó phải quan tâm đến khâu chế biến và bảo quản cho tốt.
Đó là một khâu quyết định đến chất lượng hàng nông 6 sản xuất khẩu. Hàng nông sản thêm vào đó dễ bị hư hỏng, ẩm mốc, biến chất ; chỉ cần để một thời gian ngắn trong môi trường không bảo đảm về độ ẩm, nhiệt độ. thì mặt hàng nông sản sẽ bị hư hỏng ngay. Phát triển sản xuất nông nghiệp Nền nông nghiệp của mỗi quốc gia cũng đều phải trải qua giai đoạn phát triển từ thấp đến cao, gắn liền với sự tiến hóa của loài người và sự gia tăng dân số.
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, nền nông nghiệp chủ yếu là săn bắt, hái lượm. Khi loài người tích lũy được kinh nghiệm, công cụ sản xuất ra đời, nền nông nghiệp được phát triển sang trồng trọt và chăn nuôi theo hướng du canh hay du mục. Canh tác du canh, du cư gắn liền với nền canh tác đốt rẫy. Sau đó, do sức ép về dân số và đất đai, nông nghiệp du canh, du cư vẫn tồn tại đến ngày nay ở một số vùng do một số cộng đồng đồng bào dân tộc ít người thực hiện.
Từ nền nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại, nông nghiệp tự cung và tự cấp sang nông nghiệp hàng hóa là những xu hướng cơ bản của sự phát triển nông nghiệp trong một thế kỷ qua ở các nước. Thuật ngữ phát triển nông nghiệp được dùng nhiều trong đời sống kinh tế xã hội. Phát triển nông nghiệp thể hiện quá trình thay đổi của nền nông nghiệp ở giai đoạn này so với giai đoạn trước đó và thường đạt ở trình độ cao hơn cả về số lượng và chất lượng. Nền nông nghiệp phát triển là một nền sản xuất vật chất không những có nhiều hơn về đầu ra (sản phẩm và dịch vụ) đa dạng hơn về tổ chức và thể chế, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội về nông nghiệp.
Như vậy, phát triển sản xuất nông nghiệp là một quá trình không phải trong trạng thái tĩnh. Quá trình thay đổi của nền nông nghiệp chỉ sự tác động của quy luật thị trường, chính sách can thiệp vào nền nông nghiệp của chính phủ, nhận thức và ứng xử của người sản xuất và người tiêu dùng về các sản phẩm và dịch vụ tạo ra trong lĩnh vực công nghiệp. Nền nông nghiệp phát triển là kết quả của quá trình phát triển nông nghiệp. Những yêu cầu đối với phát triển sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn hội nhập và cách mạng công nghiệp 4.0 - Nâng cao khả năng cạnh tranh, xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt chú trọng xây dựng thương hiệu sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành để tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp trên thị trường.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ ngành nông nghiệp. Tăng cường hút các nhà khoa học làm việc trong ngành nông nghiệp, đặc biệt là lực lượng cán bộ trực tiếp thực hiện ở cơ sở. Tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng địa phương, từng vùng và sát với nhu cầu, gắn với giải quyết việc làm. - Ðẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp; cải thiện giống cây trồng, vật nuôi; ứng dụng công nghệ sinh học và xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao; nâng cao khả năng phòng ngừa và khắc phục dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi… Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp và hợp tác xã đầu tư phát triển công nghệ bảo quản, chế biến nông, lâm, thủy sản… - Cơ cấu lại thị trường nội địa, phát triển hệ thống bán buôn, bán lẻ; chú trọng hơn nữa vào phát triển thị trường vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số theo hướng khuyến khích phát triển doanh nghiệp xã hội, bảo đảm lợi ích người sản xuất trực tiếp.
Đối với thị trường xuất khẩu, duy trì thị trường truyền thống, tìm kiếm thị trường mới để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Bên cạnh đó, cần quan tâm đến hoạt động điều tra, khảo sát, nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm nông, lâm, thủy, hải sản để nắm bắt thị hiếu tiêu dùng từ đó có biện pháp cơ cấu lại sản phẩm, thực hiện sản xuất sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. - Tổng kết, đổi mới và xây dựng các mô hình kinh tế, hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn. Đẩy mạnh liên kết bốn nhà và liên kết chuỗi 8 sản xuất khép kín từ đầu vào đến đầu ra để hỗ trợ kinh tế hộ phát triển theo hướng gia trại, trang trại có quy mô phù hợp, sản xuất hàng hoá lớn.
Hình thành các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh hiện đại và chuyên nghiệp, phát triển các loại hình kinh tế hợp tác, liên kết dọc sản xuất, chế biến, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp, liên kết nông nghiệp với công nghiệp và kinh tế đô thị 1. Khái quát về cây hồng không hạt 1. Đặc điểm cây hồng không hạt Hồng không hạt là cây ăn quả quý không chỉ đem lại thu nhập cao cho người dân mà còn có giá trị tạo cảnh quan và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái bền vững. Phát triển cây hồng không hạt nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, xuất khẩu và góp phần trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa.
Hồng không hạt Bắc Kạn thuộc họ thị Ebenaceae, loài hồng trơn, có tên khoa học là Diospyros kaki L. Cách gọi Hồng “không hạt” là nói tới điểm đặc biệt của loại quả này là không có hạt do nhân của hạt bị thoái hóa, trong như thạch. Vì vậy, không như các giống hồng khác, khi ăn, hồng không hạt Bắc Kạn có độ giòn và ngọt. Vỏ quả màu vàng đỏ khi chín, tai quả to.
Hồng không hạt chín vào thời điểm khoảng cuối tháng 7, 8 âm lịch, khi chín, màu quả chuyển từ xanh sang đỏ vàng sáng. Điều kiện sinh thái cho cây hồng sinh trưởng Cây hồng không hạt Bắc Kạn nói riêng thuộc loại cây ăn quả á nhiệt đới, trong chu kỳ sống hàng năm đòi hỏi phải có một giai đoạn ngủ nghỉ có nhiệt độ thấp để phân hoá mầm hoa, tạo quả. Những vùng có tổng số giờ có nhiệt độ thấp 8-110C khoảng 800 giờ đều có thể trồng hồng tốt. Để nảy mầm hồng cần nhiệt độ từ 13-170C sinh trưởng và phát triển cần nhiệt độ cao hơn từ 26-300C, tốt nhất từ 22-260C, nở hoa từ 20-220C, giai đoạn phát triển quả 26-270C, giai đoạn quả chín cần nhiệt độ thấp hơn từ 18-240C.
Biên độ ngày đêm lớn sẽ tạo phẩm chất tốt và mã quả đẹp. Thời vụ trồng và kỹ thuật chăm sóc cây hồng không hạt 9 * Thời vụ trồng Thời vụ trồng tốt nhất trong tháng 1-2 dương lịch (trước và sau lập xuân). Khi cây rụng lá, ngừng sinh trưởng, trong cây chứa nhiều chất dự trữ nhất nên dễ sống, khi trời ấm mầm sẽ bật nhanh và khoẻ * Chăm sóc cây hồng ở thời kỳ kiến thiết cơ bản Ở thời kỳ này, cây hồng cần có các hoạt động chăm sóc cơ bản như: tưới nước, đốn tỉa tạo hình, bón phân. Trong tuần đầu tiên, các hộ dân cần tưới mỗi ngày cho cây một lần vào sáng sớm hoặc chiều mát, mỗi lần 1 thùng nước/cây.
Sau đó cách 2-3 ngày tưới 1 lần cho hết tháng. Khi cây đã phục hồi sẽ tưới thưa hơn, tuy nhiên phải luôn tưới nước đủ ẩm cho cây, làm sạch cỏ gốc, đồng thời ủ cỏ khô xung quanh gốc để giữ ẩm. Đối với việc đốn tỉa cây, năm thứ nhất chỉ chọn để 3 cành khoẻ mọc ra 3 hướng làm khung, cắt các cành khung cấp 1 chỉ để 2-3 cành khung cấp 2 vào vị trí thích hợp. Đến hết năm thứ ba, cây hồng đã có bộ khung tán song song.
Trong ba năm đầu lượng phân bón cho một cây hồng/1 năm như sau: Đạm ure 0,3-0,5kg; lân 0,4kg; kali 0,5kg. Thời gian bón: lần 1 bón vào tháng 1-2, lần 2 bón vào tháng 4-5, lần 3 bón vào tháng 10-11 hàng năm. [13] * Chăm sóc cây thời kỳ cho quả Hàng tháng các hộ dân cần kiểm tra làm sạch cỏ quanh gốc, 3 tháng làm sạch cỏ giữa các hàng cây. Dùng cỏ ủ quanh gốc giữ ẩm cho cây.
Thường xuyên tưới đủ ẩm cho cây. Nếu không mưa thì tưới 2 lần/tháng và nếu có mưa thì không cần tưới. Lượng phân bón: bón một lần phân chuồng đã ủ kỹ, lượng từ 30-50kg/cây. Về lượng phân bón vô cơ, có thể tham khảo bảng tổng hợp dưới đây.