Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu về phát triển bền vững TTCK Chương 2: Phân tích thực trạng và đánh giá sự phát triển của TTCK Việt Nam giai đoạn 2000-2008. Chương 3: Giải pháp phát triển bền vững TTCK Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. 5 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1. TTCK: Thị trường Chứng khoán 2.
UBCKNN: Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước 3. SGDCK: Sở giao dịch Chứng khoán 4.HCM: Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 5. TTGDCK: Trung tâm Giao dịch Chứng khoán 6. TTLKCK: Trung tâm Lưu ký Chứng khoán 7.
ĐTNN: Đầu tư nước ngoài 8. TPCP: Trái phiếu Chính phủ 9. TPDN: Trái phiếu Doanh nghiệp 10. CPH: Cổ phần hoá 11.
IPO: Phát hành lần đầu ra công chúng 12. OTC: Thị trường chứng khoán phi tập trung 13. GDP: Tổng thu nhập quốc nội 15. NHNN: Ngân hàng Nhà nước 16.
XHCN: Xã hội chủ nghĩa 17. MFN: Nguyên tắc tối huệ quốc 18. WTO: Tổ chức Thương mại thế giới 19. CSRC: Uỷ ban Giám sát và điều tiết Chứng khoán Trung Quốc 20.
SGX: Sở giao dịch chứng khoán Singapore 21. BTA: Hiệp định Thương mại song phương 6 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Sơ đồ 1.1 Ví trí TTCK trong thị trường tài chính.2 Cấu trúc TTCK hiện đại.1 Mô phỏng cơ cấu tổ chức- Quản lý thị trường chứng khoán lấy UBCKNN làm trung tâm của Việt Nam.2 Tổ chức SGDCK Tp.3 Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán.1 Hoạt động đấu thầu TPCP tại TTGDCK Hà Nội năm 2006.2 Quy mô giá trị giao dịch toàn thị trường Hose.3 Quy mô khối lượng giao dịch toàn thị trường Hose.4Quy mô niêm yết chứng khoán trên SGDCK Tp.HCM đến tháng 5/2009 68 Bảng 2.5 Tổng hợp giao dịch của nhà ĐTNN từ 2000-2007.6 So sánh giá trị tăng tuyệt đối số công ty chứng khoán theo các năm.7 So sánh giá trị vốn hoá thị trường của các công ty qua các năm.1 Diễn biến chỉ số Vn-Index từ năm 2000-nay.2 Diễn biến chỉ số Hastc-Index từ năm 2005 đến nay.3 So sánh số công ty chứng khoán theo các năm.4 So sánh giá trị vốn hoá thị trường của các công ty qua các năm.77 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƢỚC VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.Một số vấn đề lý luận về thị trƣờng chứng khoán và phát triển bền vững thị trƣờng chứng khoán trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.Thị trƣờng chứng khoán và vai trò của nó đối với nền kinh tế Khái niệm thị trƣờng chứng khoán Trên thế giới TTCK đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm, còn ở Việt Nam TTCK mới ra đời và thực sự đi vào hoạt động từ năm 2000 đến nay, do đó còn có những nhận thức và quan điểm khác nhau về TTCK. Theo Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán của TS. Đào Lê Minh thì: “Thị trường chứng khoán thực chất là quá trình vận động của tư bản tiền tệ.
Các chứng khoán mua bán trên thị trường chứng khoán có thể đem lại thu nhập cho người nắm giữ nó sau một thời gian nhất định và được lưu thông trên thị trường chứng khoán theo giá cả thị trường, do đó bề ngoài nó được coi như là một tư bản hàng hoá”. Nguyễn Minh Đức lại cho rằng: Không gian kinh tế mà ở đó thực hiện việc phát hành và giao dịch những sản phẩm tài chính (chứng khoán) được gọi là thị trường chứng khoán. Một kết luận của tác giả cho rằng: “thị trường chứng khoán là bộ phận tất yếu của thị trường tài chính và là bộ phận quan trọng nhất của thị trường vốn; thị trường chứng khoán là phương thức huy động vốn, phân phối và phân phối lại các nguồn vốn và là “hàn thử biểu” của nền kinh tế thị trường. Đồng thời thị trường chứng khoán là môi trường đầu tư - kinh doanh sôi động, mạo hiểm, đầy hấp dẫn và phức tạp”.1 Ví trí TTCK trong thị trƣờng tài chính TT Tài chính Thị trường tiền tệ Thị trường vốn TT kinh TT tín TT liên TT cho TTCK TT bất doanh dụng ngắn ngân hàng thuê tài động sản ngoại tệ hạn chính Giao dịch các chứng Giao dịch các chứng khoán ngắn hạn khoán dài hạn Nguồn: [3] Như vậy, thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, là nơi diễn ra hoạt động mua bán các loại chứng khoán, chủ yếu là các chứng khoán trung và dài hạn.
Việc mua bán này có thể diễn ra ở thị trường sơ cấp hoặc thị trường thứ cấp, ở thị trường tập trung (tại Sở giao dịch) hay thị trường bán tập trung, ở thị trường giao ngay hay thị trường có kỳ hạn. Thị trường chứng khoán không giống với thị trường các hàng hoá thông thường khác, vì hàng hoá của thị trường chứng khoán là một loại hàng hoá đặc biệt là quyền sở hữu về tư bản. Loại hàng hoá này cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Như vậy, có thể nói, bản chất của thị trường chứng khoán là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư, mà ở đó, giá cả của chứng khoán chứa 9 đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư.
Thị trường chứng khoán là phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá. Xét về mặt hình thức, TTCK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi các loại chứng khoán, qua đó thay đổi các chủ thể nắm giữ chứngkhoán. Nhưng xét về bản chất thì: - TTCK là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm. - TTCK là định chế tài chính trực tiếp, cả chủ thể cung và cầu đều tham gia vào thị trường một cách trực tiếp, các chủ thể đầu tư đã thực sự gắn quyền sở hữu về vốn, nâng cao tiềm năng quản lý vốn.
- TTCK thực chất là quá trình vận động tư bản tiền tệ, chuyển tư bản tiền tệ từ tư bản sở hữu sang tư bản chức năng. Đây là hình thức phát triển cao của sản xuất hàng hoá. Đặc điểm cơ bản nhất của TTCK là thị trường tự do, tự do nhất trong các loại thị trường. Ở TTCK không có sự độc đoán, can thiệp cưỡng ép về giá.
Giá mua bán hoàn toàn do quan hệ cung và cầu trên thị trường quyết định. Ngoài ra, TTCK còn có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, TTCK là một định chế tài chính trực tiếp, khác với các hình thức gián tiếp là nguồn vốn đầu tư được huy động từ nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư, nhưng nguồn vốn đó phải được chuyển qua các trung gian tài chính như tín dụng ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính trung gian khác, sau đó mới trở thành nguồn vốn sử dụng. Ở TTCK, nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư được đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thông qua việc mua bán các chứng khoán do chính các doanh nghiệp phát hành trên TTCK. Thứ hai, khi nguồn vốn của nhà đầu tư được chuyển vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tuy vốn được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh dưới dạng: máy móc, thiết bị, hàng hoá… nhưng thực tế vẫn được tồn tại dưới dạng các chứng chỉ có giá (cổ phiếu, trái phiếu) lưu thông trên TTCK và có tính thanh khoản cao, nên cho phép các nhà đầu tư có thể đa dạng hoá kinh doanh, từ đó tạo nên sự linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế, làm cho tính xã hội hoá của tư bản cao hơn.
10 Thứ ba, trên TTCK các nhà đầu tư luôn gắn quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn mà không cần tích luỹ nguồn vốn đủ lớn để tự tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh. Ở đây nhà đầu tư liên tục và trực tiếp đưa ra những quyết định đối với việc sử dụng vốn của mình, đầu tư vào doanh nghiệp này hay doanh nghiệp khác thông qua việc mua bán các cổ phiếu, trái phiếu khác nhau trên TTCK. Khi nói đến bất kỳ loại thị trường nào, bên cạnh việc xác định chủ thể của thị trường thì việc xác định đối tượng giao dịch trên thị trường cũng quan trọng, tức là việc xác định hàng hoá giao dịch trên thị trường đó. Thị trường chứng khoán cũng vậy, đối tượng giao dịch của nó chính là chứng khoán.
Khái niệm chứng khoán: Chứng khoán là công cụ xác nhận tư cách chủ sở hữu đối với một công ty hay với tổ chức hoặc xác nhận các quyền đối với quyền sở hữu. Một cách hiểu khác cho rằng: chứng khoán là những giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư, xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợ hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một thời hạn nào đó và có khả năng chuyển nhượng. Theo Điều 6 Luật chứng khoán năm 2006 quy định chứng khoán là bằng chứng xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Các loại chứng khoán chủ yếu bao gồm: Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ Chứng khoán vốn - cổ phiếu: là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành xác nhận một hoặc một số cổ phần của cổ đông đóng góp vốn trong công ty.
Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên. Cổ phiếu thường là cổ phiếu phổ biến và bắt buộc phải có tại công ty cổ phần, cổ phần của các cổ đông thường (cổ đông phổ thông). Cổ phiếu ưu đãi là cổ phiếu mà nhà phát hành có thể phát hành các loại cổ phiếu ưu đãi: cổ phiếu ưu đãi tích luỹ, cổ phiếu ưu đãi không tích luỹ, cổ phiếu ưu đãi có chia cổ phần. Đây là công cụ xuất hiện sớm nhất trong lịch sử TTCK, ra đời cùng với sự xuất hiện của công ty cổ phần.
Cổ phiếu là công cụ rất quan trọng nhằm huy động vốn, do công ty cổ phần ban hành, nhằm xác định quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của cổ đông đối với tài sản và thu nhập của một công ty cổ phần. 11 Chứng khoán nợ - trái phiếu: là một loại hợp đồng được ký kết giữa chủ thể phát hành (Chính phủ hay doanh nghiệp) và người cho vay (trái chủ), đảm bảo một sự chi trả lợi tức định kỳ và hoàn lại vốn gốc cho người sở hữu trái phiếu ở vào thời điểm đáo hạn trên giấy chứng nhận nợ, có ghi mệnh giá và lãi suất của trái phiếu.