phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chƣơng 8 tiết: Chƣơng 1: Vai trò của văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm Đồng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội - cơ sở lý luận. Chƣơng 2: Vai trò của văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng đối với phát triển kinh tế - xã hội - thực trạng và vấn đề đặt ra. Chƣơng 3: Xu hƣớng biến đổi và giải pháp phát huy vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 VAI TRÒ CỦA VĂN HOÁ BẢN ĐỊA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH LÂM ĐỒNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI - CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Văn hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội 1. Quan niệm về văn hóa Văn hóa, là thuật ngữ đa nghĩa, thƣờng đƣợc xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau. Cho đế nay ngƣời ta đã thống kê có hơn 400 định nghĩa về văn hóa. Điều đó có nghĩa là sự xác định khái niệm văn hóa không đơn giản bởi mỗi học giả đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cần nghiên cứu.
Trong lịch sử, khái niệm văn hóa xuất hiện rất sớm ở cả phƣơng Đông cũng nhƣ ở phƣơng Tây. Ở phƣơng Đông, trong thời kỳ Cổ đại ở Trung Quốc, văn hóa đƣợc hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị dùng “văn hóa” và “giáo hóa”, dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục và cảm hóa con ngƣời. Ở nƣớc ta gần 600 năm trƣớc, Nguyễn Trãi cũng đã mơ ƣớc một xã hội văn trị, lấy nền tảng văn hiến cao, lấy trình độ học vấn và trình độ tu thân của mỗi ngƣời làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa của xã hội. Ở phƣơng Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tinh, (Cullture) nghĩa là cày cấy, vun trồng - gắn liền với hoạt động nông nghiệp.
Sau này, nội dung đó phát triển thành ý nghĩa hoạt động vun trồng, bù đắp. tinh thần của con ngƣời, gắn chặt với lao động sáng tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con ngƣời. Trong Tiếng Việt, văn hóa đƣợc dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngƣỡng, phong tục, lối sống, lao động.
Chủ nghĩa Mác-Lênin xem văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội - 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lịch sử, tiêu biểu cho trình độ đạt đƣợc trong lịch sử phát triển xã hội [49, tr. Cũng bàn về văn hóa, Giáo sƣ, tiến sĩ A. Ácnônđốp cho rằng: "Văn hóa là hiện tƣợng phức tạp và đa diện. Nó bao gồm cả hoạt động sáng tạo, tức là toàn bộ quá trình sản xuất ra tƣ tƣởng và vật chất hóa các tƣ tƣởng đó; cả những tính cách của con ngƣời nhƣ một chủ thể hoạt động, và cả bản thân nói chung những giá trị vật chất và tinh thần đƣợc tạo ra trong quá trình hoạt động ấy.
Một định nghĩa thỏa đáng về văn hóa cần phải bao hàm tất cả các mặt trên đây" [1, tr. Trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ tổng thể các hiện tƣợng bao chứa trong khái niệm phức tạp này, A.Ácnônđốp đã đề xuất một định nghĩa khái quát nhƣ sau: "Văn hóa là hoạt động sáng tạo tích cực của con ngƣời (cá thể nhóm xã hội, giai cấp, dân tộc, xã hội nói chung) thực hiện trong các lĩnh vực sản xuất vật chất và tinh thần, nắm bắt và khai thác thế giới, quá trình này sẽ sản xuất, bảo quản phân phối, trao đổi và tiêu thụ những giá trị vật chất và tinh thần mang ý nghĩa xã hội, đồng thời nó là một tổng hợp chính những giá trị đã vật thể hóa hoạt động sáng tạo của ngƣời" [1, tr. Tuy đến nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa song các định nghĩa đều thống nhất chung ở một điểm chủ yếu là nhấn mạnh đến sự sáng tạo vƣơn tới các giá trị nhân văn của văn hóa, là phƣơng thức tồn tại đặc hữu của loài ngƣời , khác cơ bản với tổ chức đời số ng các quầ n thể sinh vâ ̣t trên trái đấ t. Mọi thứ văn hóa đều thuộc về con ngƣời, văn hóa là đặc trƣng cơ bản phân biệt con ngƣời với động vật… Con ngƣời sinh ra từ tự nhiên, không thể tách khỏi tự nhiên để tồn tại và phát triển.
Văn hóa trƣớc hết là sự thích nghi chủ động và có ý thức của con ngƣời với tự nhiên, đồng thời lại là sự phát triển của sự thích nghi ấy.Với tính cách là một sinh vật, con ngƣời có một bản chất thứ nhất, đó là bản chất tự nhiên, nhƣng với tính cách là một sinh vật có ý thức và sống thành xã hội thì con ngƣời lại có bản chất thứ hai đó là bản chất văn hóa, vƣợt ra khỏi tự nhiên. Nhƣ vậy, văn hóa đƣợc hình thành và phát triển trong quan hệ thích nghi giữa con ngƣời với thiên nhiên, giữa con ngƣời với con ngƣời. Trải qua hàng ngàn năm thích nghi và cải tạo thế giới, những kinh nghiệm mà con ngƣời tích lũy đƣợc đã trở thành nền tảng cơ bản cho sự 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển của văn hóa. Văn hóa không chỉ bó hẹp trong quan hệ cá nhân gia đình và cộng đồng mà còn mở rộng trong mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới.
Văn hóa hình thành trong quá trình tiếp xúc, giao lƣu, sàng lọc, cải biến giữa văn hóa bản địa với những nền văn hóa khác. Do đó, văn hóa bao giờ cũng thể hiện sự đa dạng, phong phú nhƣng luôn mang những nét độc đáo của dân tộc, đồng thời bao hàm tiềm ẩn những giá trị chung của nhân loại. Bản chất cốt lõi và cơ bản của văn hóa là sự sáng tạo vƣơn tới các giá trị nhân văn của con ngƣời qua trƣờng kỳ lịch sử. Khi bàn về văn hóa Hồ Chí Minh viết: Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [52, tr. Quan niệm văn hóa của Hồ CHí Minh là một cách tiếp cận văn hóa từ ý nghĩa khái quát, đặc trƣng nhất của nó, một định nghĩa cô đọng và chính xác về văn hóa. Hồ Chí Minh xuất phát từ cách tiếp cận mác - xít nhƣng lại gần gũi với nhận thức hiện đại, đã toát lên cái nhìn vƣ̀a toàn diê ,̣n vƣ̀a sâu sắ c về nguồ n gố c lich ̣ sƣ̉ của văn hóa , về pha ̣m vi rô ̣ng lớn của văn hóa , về mă ̣t biể u hiê ̣n của văn hóa trong đời số ng và toàn bô ̣ sinh hoa ̣t của con ngƣơ.̀ iNguồ n gố c của văn hóa theo Hồ Chí Minh là do nhu cầu sinh tồn và mục đích sống của con ngƣời.
Con ngƣời không thể tồ n ta ̣i nế u không có khả năng sáng ta ̣o và phát minh ra văn hóa nhằm đối phó với nhƣ̃ng thƣ̉ thách của thiên nhiên và của xã hô ̣i. Ngƣời đã xác định văn hóa bao gồm những thành quả của sự sáng tạo cả về phƣơng diện vật chất và tinh thần nhằm đáp ứng cho sự tồn tại và phát triển của loài ngƣời. Và điều đặc biệt ở đây là Ngƣời cho rằng văn hóa không chỉ là sự sáng tạo mà còn là phƣơng thức sử dụng sự sáng tạo đó. Với cách tiếp cận văn hóa từ ý nghĩa khái quát, đặc trƣng nhất Hồ Chí Minh đã đƣa ra định nghĩa cô đọng về văn hóa: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống và đời hỏi của sự sinh tồn” [53, tr.
Gần đây, đứng trƣớc sự tiến công mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa, vấn đề giữ gìn, bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa của các dân tộc, các quốc gia đang gặp phải những thách thức to lớn, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và các dân tộc thiểu số. Vì vậy, UNESCO đã nêu ra định nghĩa về văn hóa trên cơ sở nhấn mạnh đến nội dung này nhằm thức tỉnh tinh thần trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc chống xu thế nhất thể hóa văn hóa, hƣớng tới tôn trọng và bảo vệ những giá trị văn hóa độc đáo của các quốc gia, các dân tộc: Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngƣỡng [42, tr. Phạm Minh Hạc cho rằng: “Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần, do con ngƣời, cộng đồng, dân tộc, loài ngƣời sáng tạo ra” [38, tr.
Nhƣ vậy, văn hóa bao gồm cả lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần thể hiện năng lực sáng tạo độc đáo, riêng biệt của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trong qúa trình vận động và phát triển của mình. Đó là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế hệ, hoạt động sang tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc, với các biểu hiện chính là: giá trị vật chất và giá trị tinh thần.