CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm tính tích cực 1. Một số quan niệm về tính tích cực Đây là một khái niệm rộng ở ở tất cả các lĩnh vực khoa học như triết học, sinh vật học, tâm lý học, giáo dục học. Có rất nhiều các quan niệm khác nhau về tính tích cực: - Các nhà triết học duy vật cho rằng: tính tích cực là sự vận động của vật chất.
Sự vận động thay đổi này có thể nhận thấy ngay ở mức độ thấp nhất của vật chất, giúp cho sự vật thoát khỏi trạng thái nằm yên. - Các nhà tâm lý học cho rằng: tính tích cực được đặt trong mối quan hệ với hoạt động luôn xuất hiện động lực và dẫn đến hoạt động phản ứng của cơ thể để vượt khó khăn trở ngại và từ đó thể hiện tính chất độc lập của chủ thể với môi trường. + Tính chất vượt khó khăn trở ngại trong môi trường hoàn cảnh theo mục đích vạch ra của chủ thể. + Thể hiện tính ổn định, bền vững của hoạt động tạo thành kiểu phản ứng môi trường.
Lại có ý kiến cho rằng: tính tích cực là lòng mong muốn không chủ định gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của hoạt động. Tóm lại: tính tích cực của cá nhân là sự biểu hiện nỗ lực của cá nhân ( ý chí, trí, lực…) trong quá trình tác động đến đối tượng (nhận thức, tái tạo…) nhằm thu lượm được kết quả cao trong quá trình hoạt động của cá nhân. Tính tích cực gắn với hoạt động trạng thái của chủ thể, nó bao hàm cả tính chủ động có ý thức của chủ thể. Khái niệm tính tích cực nhận thức Để tiếp cận được với khái niệm tính tích cực nhận thức, chúng ta phải đứng trên góc độ triết học, tâm lý học, giáo dục hoc.
5 z - Theo tâm lí học: tính tích cực nhận thức có thể hiểu là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí, nhằm giải quyết các vấn đề học tập và nhận thức góp phần làm cho nhân cách của chủ thể được phát triển, nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện, là điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt động. Nó là phẩm chất hoạt động của cá nhân. - Theo giáo dục học hiện đại cho rằng: tính tích cực nhận thức là một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tâp. Như vậy, tính tích cực nhận thức có hai tính chất nổi bật liên quan chặt chẽ với nhau, đó là: + Thái độ của chủ thể nhận thức đối với đối tượng nhận thức.
+ Sự thay đổi bên trong các mô hình tâm lí của hoạt động nhận thức. Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức - Khả năng định hướng đổi mới nhiệm vụ nhận thức và định hướng khi nghiên cứu tài liệu học tập. - Hứng thú sâu sắc đối với nhiệm vụ học tập và với đối tượng nghiên cứu. - Sự tập trung chú ý cao, sự căng thẳng trí tuệ.
- Có ý chí kiên trì, khắc phục khó khăn, huy động tất cả những kiến thức để hoàn thành nhiệm vụ. - Khả năng linh hoạt để đáp ứng lại những tình huống khác nhau để tìm cách giải quyết vấn đề, từ đó kiểm tra kết quả giải quết vấn đề. Biểu hiện này là biểu hiện đặc trưng nhất, tiêu biểu nhất của tính tích cực nhận thức, thể hiện bản chất của tính tích cực nhận thức - Một là: Tính tích cực tái hiện (mức độ bắt chước): chủ thể nhận thức chủ yếu dựa vào trí nhớ để tái hiện lại những điều đã được nhận thức. 6 z - Hai là: Tính tích cực tìm tòi: đặc trưng bằng sự bình phẩm, phê phán, tìm tòi trong quá trình nhận thức.
Thể hiện óc sáng kiến, lòng khao khát hiểu biết, hứng thú học tập. Tính tích cực loại này không bị hạn chế trong khuôn khổ những yêu cầu của giáo viên trong giờ học. - Ba là: Tính tích cực sáng tạo: là mức độ cao nhất của tính tích cực nhận thức, nó đặc trưng bằng sự khẳng định con đường riêng của mình, thể hiện sự độc lập nhận thức không giống với con đường của mọi người đã thừa nhận, để đạt được mục đích. Để giúp giáo viên phát hiện các em có tích cực nhận thức hay không, cần dực vào một số dấu hiệu sau đây: - Có chú ý học tập không? - Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức hoạt động học tập hay không (thể hiện ở việc hăng hái phát biểu ý kiến, ghi chép.)? - Có hoàn thành những nhiệm vụ được giao không? - Có ghi nhớ tốt những điều đã được học không? - Có hiểu bài học không? - Có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng không? - Có vận dụng được các kiến thức đã học vào thực tiễn không? - Tốc độ học tập có nhanh không? - Có hứng thú trong học tập hay chỉ vì một ngoại lực nào đó mà phải học? - Có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập không? - Có sáng tạo trong học tập không? Sự biểu hiện và cấp độ từ thấp đến cao của tính tích cực học tập, mối liên quan giữa động cơ và hứng thú trong học tập được diễn đạt trong sơ đồ sau: 7 z TÍCH CỰC HỌC TẬP BIỂU HIỆN CẤP ĐỘ - Khao khát học,hăng - Bắt trước; hái trả lời câu hỏi; - Tìm tòi; -Hay nêu thắc mắc; - Sáng tạo.
-Chủ động vận dụng -Tập trung chú ý. ĐỘNG CƠ HỨNG THÚ TỰ GIÁC SÁNG TẠO TÍCH CỰC ĐỘC LẬP 8 z 1. Mức độ tính tích cực nhận thức của học sinh Về mức độ tích cực của học sinh trong quá trình học tập có thể không giống nhau, giáo viên có thể phát hiện được điều đó nhờ dựa vào một số dấu hiệu sau đây: - Tự giác học tập hay bị bắt buộc bởi những tác động bên ngoài (gia đình, bạn bè, xã hội). - Thực hiện yêu cầu của thầy giáo theo yêu cầu tối thiểu hay tối đa? - Tích cực nhất thời hay thường xuyên liên tục? - Tích cực tăng lên hay giảm dần? - Có kiên trì vượt khó hay không? 1.
Một vài đặc điểm tính tích cực nhận thức của học sinh Tính tích cực của học sinh có mặt tự phát và mặt tự giác: Mặt tự phát: là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kì, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà trẻ đều có ở những mức độ khác nhau. Cần coi trọng những yếu tố tự phát này, nuôi dưỡng, phát triển chúng trong dạy học. Mặt tự giác: là trạng thái tâm lí có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó cần hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó. Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học.
Tính tích cực nhận thức phát sinh không chỉ từ nhu cầu nhận thức mà còn từ nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu văn hóa. Hạt nhân cơ bản của tính tích cực nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo nên do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng. Tính tích cực nhận thức và tính tích cực học tập có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng không phải là đồng nhất. Có một số trường hợp, tính tích cực học tập thể hiện ở sự tích cực bên ngoài, mà không phải là tính tích cực trong tư duy.
Đó là những điều cần lưu ý khi đánh giá tính tích cực nhận thức của học sinh. 9 z Gần đây một số nhà lí luận dạy học cho rằng: với những học sinh khá, giỏi, thông minh. việc sử dụng biện pháp giáo cụ trực quan, phương pháp dạy học nêu vấn đề … đôi khi như là một vật cản, làm chậm quá trình tư duy vốn diễn ra rất nhanh và diễn ra qua trực giác của các em này. Đối với những học sinh này, trong nhiều trường hợp tri thức được lĩnh hội bằng trực giác.
Về nguyên nhân của tính tích cực nhận thức của học sinh Tính tích cực nhận thức của học sinh tuy nẩy sinh trong quá trình học tập nhưng nó lại là hậu quả của nhiều nguyên nhân: có những nguyên nhân phát sinh lúc học tập, có những nguyên nhân hình thành từ quá khứ, thậm trí từ lịch sử dài lâu của nhân cách. Nhìn chung, tính tích cực nhận thức phụ thuộc vào các yếu tố sau đây: - Bản thân học sinh: + Đặc điểm hoạt động trí tuệ (tái hiện, sáng tạo. + Năng lực (hệ thống tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, sự trải nghiệm cuộc sống.) + Tình trạng sức khỏe. +Trạng thái tâm lí (hứng thú, xúc cảm, chú ý, nhu cầu, động cơ, ý chí.
+ Điều kiện vật chất, tinh thần (thời gian, tiền của, không khí đạo đức). + Môi trường tự nhiên, xã hội. - Nhà trường: + Chất lượng quá trình dạy học giáo dục (nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức kiểm tra đánh giá. + Quan hệ thày trò.
+ Không khí đạo đức nhà trường. 10 z Trong những nhân tố trên đây, có những nhân tố có thể hình thành ngay, nhưng có những nhân tố chỉ được hình thành qua một quá trình lâu dài dưới ảnh hưởng của nhiều tác động. Như vậy, việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh đòi hỏi một kế hoạch dài lâu và toàn diện khi phối hợp hoạt động gia đình, nhà trường và xã hội. Hứng thú và vấn đề tích cực hoạt động nhận thức của học sinh Để tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, hứng thú là vấn đề được các thầy giáo quan tâm nhất vì: - Nó có thể hình thành ở học sinh một cách nhanh chóng và bất cứ lúc nào trong quá trình dạy học.
- Có thể gây hứng thú ở học sinh mọi lứa tuổi. - Điều quan trọng hơn cả là nó nằm trong tầm tay của người thầy. Người thầy có thể điều khiển hứng thú của học sinh qua các yếu tố của quá trình dạy học: nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức; Qua các bước lên lớp: mở bài, giảng bài mới, củng cố, vận dụng, kiểm tra kiến thức; Qua mối quan hệ thầy trò… Về phía học sinh, nhất là học sinh nhỏ tuổi, vai trò hứng thú đối với kiến thức giữ vị trí rất quan trọng trong việc làm cho các em tích cực học tập.