phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết. Chƣơng 1: Lý luận chung về con người và nguồn lực con người trong thời kỳ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam. Chƣơng 2: Thực trạng nguồn lực con người ở Hải Dương trong thời kỳ CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn. Chƣơng 3: Một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người ở Hải Dương trong thời kỳ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CON NGƢỜI VÀ NGUỒN LỰC CON NGƢỜI TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM 1. Quan điểm của Triết học Mác-Lênin về con ngƣời 1. Khái niệm về con người Con người là chủ thể xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá trình phát triển, vì vậy con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau. Các khoa học chuyên ngành nhận thức con người bằng cách chia hệ thống thành yếu tố.
Còn triết học nghiên cứu con người bằng cách tổng hợp các yếu tố bằng hệ thống. Triết học về con người được hình thành trên cơ sở tổng kết những thành tựu của các khoa học cụ thể trong lĩnh vực nghiên cứu về con người. Trong sự phát triển của triết học có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất con người. Thời cổ đại, Các nhà triết học coi con người là một vũ trụ nhỏ, đường đời của mỗi con người được gọi là số phận và nó được quy định bởi ý chí của tạo hóa.
Thế gới quan tôn giáo coi con người như một thực thể nhị nguyên, nó là sự kết hợp giữa tinh thần và thể xác, trong đó thể xác là cái nhất thời, tinh thần là cái vĩnh cửu. Do hạn chế về điều kiện lịch sử, nên quan niệm về con người thường mang tính chất duy tâm, thần bí, trừu tượng. Thời kỳ Trung cổ ở phương tây cùng với sự thống trị của Thiên Chúa giáo, con người được quan niệm là do thượng đế , đức Chúa trời sáng tạo ra, các vị thần thánh quyết định thân phận. Thời kỳ Phục Hưng và cận đại, con người được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau.
Chủ nghĩa nhân đạo tư sản đề cao con người với những nhu cầu cá nhân. Thời kỳ cận đại quan niệm của các nhà siêu hình coi con người là “một cỗ máy”. Phoi - ơ - bắc là một trong những nhà duy vật lớn nhất của triết học trước Mác, mặc dù ông đấu tranh quyết liệt 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chống chủ nghĩa duy tâm, nhưng ông lại đồng nhất tính sinh học vào bản chất con người, tách con người ra khỏi đời sống xã hội và hòa tan vào bản chất tôn giáo, do đó ông không thấy được vai trò tích cực của sản xuất trong quá trình nhận thức, cải tạo thế giới và hoạt động thực tiễn của con người; vì vậy ông không hiểu được bản chất xã hội của con người. Quan niệm của Phoi - ơ - bắc về con người vẫn mang tính trừu tượng, phi lịch sử.
Từ quan niệm đó, ông đã trượt từ chủ nghĩa duy vật trong quan niệm về giới tự nhiên sang chủ nghĩa duy tâm trong quan niệm xã hội. Những sai lầm thiếu sót trong nhận thức triết học về bản chất con người của các trào lưu triết học trước Mác có nguyên nhân từ lập trường duy tâm hay từ phương pháp siêu hình trong cách xem xét vấn đề con người. Chỉ đến chủ nghĩa Mác, với chủ nghĩa duy vật triệt để và phương pháp biện chứng khoa học, thì những vấn đề về con người mới được giải quyết một cách khoa học và toàn vẹn. Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, về mối quan hệ giữa con người - tự nhiên - xã hội.
Về con người với tư cách là chủ thể sáng tạo lịch sử. Triết học Mác-Lênin quan niệm con người vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội. Con người là bộ phận của tự nhiên, là sản phẩm cao nhất của tự nhiên. Đồng thời, con người là sản phẩm của xã hội, là sản phẩm của sự phát triển xã hội.
Vì vậy con người có hai mặt không thể tách rời: Tự nhiên - xã hội. Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là giới tự nhiên.Mác thừa nhận con người là động vật cao cấp “Con người sống bằng giới tự nhiên. Như thế là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải duy trì một quá trình thường xuyên để tồn tại” [35, tr. Con người là một bộ phận của giới tự nhiên; là kết quả của quá trình phát triển và tiến hóa lâu dài của môi trường tự nhiên.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bản chất tự nhiên và bản chất xã hội không tồn tại tách rời nhau mà chúng hòa quyện vào nhau trong sự phát triển của cá thể và trong bản chất của nó. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật. Nhu cầu sinh học phải được “nhân hóa” để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học. Sự hình thành bản chất của con người không phải là kết quả của một hành động trong một lúc nào đó, mà là một quá trình con người không ngừng hoàn thiện khả năng tồn tại của mình trước sự tác động thường xuyên của tự nhiên và xã hội.
Con người vượt lên loài vật trên cả ba phương diện: quan hệ với tự nhiên; quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối quan hệ đó suy đến cùng đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động của con người. Hoạt động thực tiễn, mà đầu tiên là lao động là nền tảng có tính chất quyết định của sự thống nhất giữa thực thể sinh vật và thực thể xã hội. “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế một mức độ mà trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói : Lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [35, tr.
Chính vì vậy Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng “ Bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” [35, tr. Luận đề trên chính là sự khẳng định rằng không có cá nhân con người tồn tại trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Mà, con người luôn cụ thể xác định, tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần bằng hoạt động thực tiễn của mình, bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình thông qua các quan hệ xã hội.
Như vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hóa lâu dài của giới hữu sinh. Song, điều quan trọng là con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử xã hội. Thấm nhuần và vận dụng phát triển sáng tạo tư tưởng của Mác- Ăngghen, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc đến những quyền tối thượng của con người ngay ở những dòng đầu tiên trong “Tuyên ngôn độc lập” của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [45, tr.
Hồ Chí Minh thương yêu, quý trọng (nhất là đối với người già và trẻ em), tin tưởng vào những khả năng của con người, nâng niu những tài năng, nghiêm khắc với những thói hư tật xấu song cũng rất mực độ lượng bao dung, luôn mong muốn và đấu tranh cho hòa bình, chống chiến tranh để con người có một cuộc sống hạnh phúc. Người giải thích về chữ “Nhân” như sau: “Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [47, tr.
Tin ở sức mạnh của con người. Hồ Chí Minh nhận định: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sổi nổi, nố kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn , nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và mất nước.
Hồ Chí Minh khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng: Làm cách mạng là để giải phóng con người một cách toàn diện; Điều trăn trở lớn nhất trong suốt cuộc đời của Người là “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành…” [45, tr. Như vậy, Hồ Chí Minh không chỉ mong giải phóng con người khỏi ách nô lệ mà còn hướng tới mục tiêu giải phóng con 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội được Người nhắc đến rất nhiều, nhưng Người không nói đến những điều cao xa mà thường chủ yếu nhấn mạnh đến việc chăm lo đời sống của con người. “Nói một cách tóm tắt một mặt, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc” [49, tr.
Song, cách mạng cũng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử. Người không ngừng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, vì đó chính là động lực cho cách mạng, nguyên nhân của mọi thắng lợi. Tư tưởng “lấy dân làm gốc” được Hồ Chí Minh quán triệt rất rõ, là sự nối tiếp truyền thống “dân vi bản” trong lịch sử Việt Nam, là tư tưởng chỉ đạo chiến lược xuyên suốt cả quá trình cách mạng nước ta từ trước tới nay.