Chương 1 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Nguồn lực con người và vai trò của nguồn lực con người trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước 1. Khái niệm nguồn lực con người Con người là gì? Con người sinh ra từ đâu? Bản chất con người là gì? Con người có vai trò như thế nào đối với lịch sử? Trong lịch sử triết học đã có nhiều câu trả lời khác nhau. Có thể tóm tắt các quan điểm đó như sau: Các nhà triết học duy tâm và tôn giáo trong lịch sử thường có quan niệm về nguồn gốc và bản chất của con người như sau: Họ cho rằng, con người về cơ bản có nguồn gốc từ thế giới tinh thần, bản chất của con người là những yếu tố có sẵn và bị quy định từ thế giới siêu tự nhiên (thế giới của Chúa trời, thế giới của Thượng đế hay Thiên mệnh).
Các nhà triết học duy vật trước Mác: mặc dù đã biết gắn việc giải thích nguồn gốc và bản chất của con người với quá trình phát triển của tự nhiên, song còn đồng nhất bản chất con người với bản chất tự nhiên, chưa chỉ ra được sự khác biệt giữa con người với các giới loài động vật có trước con người. Triết học Mác trên cơ sở kế thừa có phê phán các quan niệm trước đây về con người đã đề xuất các quan điểm khoa học và toàn diện về nguồn gốc và bản chất con người. Theo Mác, xét về mặt bản chất, con người là một thực thể vừa có sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội. Mặt sinh học của con người thể hiện ra ở chỗ con người không những có nguồn gốc từ giới tự nhiên (con người là sản phẩm của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên), mà còn mang bản chất tự nhiên (tức là bản năng sinh học thường thấy trong các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 giới loài động vật trước con người).
Tuy nhiên, mặt tự nhiên chưa phải là yếu tố duy nhất quy định nên bản chất của con người giống như quan niệm của các nhà duy vật siêu hình trước đây. Trái lại, Mác còn cho rằng, bản chất con người còn bị quy định bởi một yếu tố hết sức quan trọng khác, đó là yếu tố xã hội. Chính yếu tố xã hội đã tạo nên mặt xã hội trong bản chất của con người. Mặt khác, khi xem xét bản chất con người cần phải thấy sự tác động qua lại giữa hai yếu tố tự nhiên và xã hội để tạo nên bản chất của con người nói chung, trong đó yếu tố quyết định vẫn là yếu tố xã hội.
Đề cập đến bản chất đích thực của con người, triết học Mác khẳng định: trên thực tế không tồn tại con người nói chung (con người trừu tượng) mà trái lại, con người luôn luôn tồn tại với tính cách là con người cụ thể. Và chỉ trong các mối quan hệ xã hội cụ thể đó, bản chất con người mới được bộc lộ ra. Cố nhiên, không phải là toàn bộ bản chất nói chung mà chỉ là một phần bản chất. Như thế trong suốt cuộc đời của mỗi người đã và sẽ bộc lộ ra vô vàn bản chất khác nhau.
Giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau, nhưng xu hướng chung vẫn tạo ra một điểm chung (bản chất chung) nào đó. Xu hướng chung đó chính là bản chất đích thực của mỗi con người. Chính vì vậy, để nhấn mạnh mặt xã hội với tính cách là nhân tố dùng để xác định bản chất con người, trong những Luận đề về Phoiơbắc, C.Mác khẳng định: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” [39, tr.
Bản chất nói chung của con người lại như vậy. Tuy nhiên, trong thực tế không hề tồn tại một con người chung chung, hay con người trừu tượng. Khái niệm “Con người” chỉ là đại danh từ để chỉ một loài động vật có ý thức mà mỗi cá thể của loài tồn tại với tư cách như là những cá nhân có những đặc điểm riêng biệt. Mỗi cá nhân được hiểu như là những con người cụ thể có thể TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 phân biệt với các cá nhân khác thông qua những đặc điểm độc đáo riêng có của mình được gọi là nhân cách.
Giữa cá nhân và xã hội có mối liên hệ biện chứng với nhau. Sự tồn tại của mỗi cá nhân được quyết định bởi thông qua sự tồn tại của từng xã hội. Và ngược lại, xã hội cũng chỉ có thể tồn tại thông qua từ những đơn vị thống nhất đầu tiên là cá nhân. Quan điểm triết học mácxít cũng cho rằng, với tư cách là một thực thể sinh học - xã hội, con người một mặt vừa là chủ thể sáng tạo ra hoàn cảnh, ra lịch sử, mặt khác con người cũng là sản phẩm của chính hoàn cảnh hay quá trình lịch sử đó.
Khi nhấn mạnh ở khía cạnh thứ nhất, triết học Mác muốn chỉ ra sự khác biệt căn bản về bản chất giữa con người với các giới loài vật khác. Ngược lại, khi nhấn mạnh ở khía cạnh thứ hai, triết học Mác muốn khẳng định tính lịch sử, bởi hoàn cảnh với tư cách là một trong những nhân tố góp phần quy định quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người với ý nghĩa thời đại nào, con người ấy. Từ đó hình thành nên các mẫu hình con người tiêu biểu khác nhau tương ứng với từng thời đại, từng hoàn cảnh và điều kiện lịch sử cụ thể. Chẳng hạn có mẫu hình con người đặc trưng cho thời đại cổ đại, có mẫu hình con người đại diện và đặc trưng cho thời đại của chế độ phong kiến, của thời đại tư sản cũng như có mẫu hình con người đại diện và đặc trưng cho chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa - con người xã hội chủ nghĩa v.
Ngoài ra, quan điểm triết học mácxít cũng cho rằng, với tư cách là một thực thể tự nhiên - xã hội, con người nói chung còn biểu hiện ra trên nhiều phương diện. Từ đó, hình thành nên nhiều khái niệm khác nhau đều có liên quan trực tiếp đến con người. Chẳng hạn, con người tồn tại với tư cách là một nhân tố thúc đẩy đời sống kinh tế - xã hội gọi là nhân tố con người hoặc con người tồn tại với tư cách là một nguồn tài nguyên đặc biệt gọi là tài nguyên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 con người, hay con người tồn tại với tư cách là một nguồn động lực đặc biệt - nguồn nhân lực hay nguồn lực về con người v. Như vậy, khái niệm nguồn lực con người được luận văn đề cập dưới đây một mặt chính là sự tiếp tục triển khai quan điểm của triết học Mác-Lênin về con người tồn tại với tư cách là một nhân tố đặc biệt có tác động đến sự vận động và phát triển của xã hội, nhưng mặt khác lại là khái niệm dùng để chỉ một trong những nguồn tài nguyên là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, tài nguyên con người hay nguồn lực con người.
Khái niệm nguồn lực con người được sử dụng lần đầu những năm đầu thế kỷ XIX và khá phổ biến vào những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và cả một số nước châu Á. Ở nước ta khái niệm này được sử dụng tương đối rộng rãi từ những năm 1990 của thế kỷ XX đến nay. Tìm hiểu các nghiên cứu gần đây có thể thấy quan niệm về nguồn lực con người khá đa dạng, được đề cấp từ nhiều góc độ khác nhau. Trong hệ thống sản xuất xã hội thì con người luôn được coi là yếu tố cơ bản và quyết định.
Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế con người được nhìn nhận như một phương tiện chủ yếu để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trong lý thuyết về vốn, con người lại được đề cập như một loại vốn đặc biệt (vốn người), là nhân tố cơ bản và hàng đầu để tạo ra kết quả của quá trình sản xuất và kinh doanh. Với những cách tiếp cận như vậy, Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: nguồn lực con người được hiểu là toàn bộ vốn người (thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu). Như vậy, có thể hiểu nguồn lực con người ở đây là một trong những loại vốn hay tài nguyên tồn tại bên cạnh các loại vốn, hay tài nguyên truyền thống như tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên khoa học - công nghệ, tài nguyên tài chính.
Tuy nhiên, khác với các loại tài nguyên truyền thống như đã kể trên thì tài nguyên con người là loại tài nguyên đặc biệt. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Liên Hợp quốc khi bàn đến con người với tư cách là một nguồn lực thì lại cho rằng: nguồn lực con người là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước. Có thể thấy khác với quan niệm của Ngân hàng Thế giới, quan niệm về nguồn lực con người của Liên Hợp quốc lại gắn với số lượng và chất lượng tiềm năng về con người ở mỗi quốc gia. Ở nước ta, khi bàn đến khái niệm nguồn lực con người cũng có nhiều ý kiến khác nhau.
GS, TSKH Phạm Minh Hạc trong đề tài cấp nhà nước: “Con người Việt Nam - mục tiêu động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” mã số KX - 07 cho rằng: nguồn lực con người được hiểu là dân số và chất lượng con người bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất [28, tr.238]; Tác giả Trần Thị Thu Thuỷ lại cho rằng: nói tới nguồn lực con người là nói tới mọi tiềm năng về lao động của mỗi quốc gia, là lực lượng con người đang trực tiếp và gián tiếp sáng tạo ra các giá trị của cải vật chất và thúc đẩy sự phát triển của xã hội [53]; Các tác giả của Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học (tái bản lần thứ hai có sửa chữa).