CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOÀI ONG 1. Nguồn gốc của ong Trong lịch sử phát triển của sinh giới thì động vật có hai hướng tiến hoá đó là động vật không xương sống và động vật có xương sống. Trong động vật không có xương sống thì phát triển nhất là ngành chân đốt, trong đó có loài ong.
Ong có nguồn gốc từ ngành động vật chân đốt, có tên khoa học là Arthropoda, chân đốt có nguồn gốc từ giun đốt (Annelides) xuất phát từ lớp giun nhiều tơ (Polychaeta). Quá trình chuyển hoá từ giun nhiều tơ sang ngành chân đốt là một quá trình phức tạp hoá về mặt cấu tạo. Tầng Cuticul =>Vỏ kitin (bộ xương ngoài) Biểu bì mô cơ => bó cơ Chi bên => Chi phân đốt Mạch máu lưng => Tim Cơ quan thị giác phát triển phức tạp. Các đốt trước tập hợp thành đầu, đốt giữa thành ngực, đốt phần sau chuyển thành phần bụng.
Bên cạnh đó xuất hiện thêm một số cơ quan mới: ống khí, ống Malpighi. Hình thái cấu tạo ngoài của ong - Cơ thể ong chia làm 3 phần rõ rệt: Đầu, ngực và phần bụng, các phần này được nối với nhau bằng các khớp động. - Có 3 đôi chân và 2 đôi cánh. - Bên ngoài có lớp vỏ kitin gồm nhiều tấm nối với nhau tạo nên bộ xương ngoài.
- Trong một tổ ong có 3 cấp: Ong chúa có kích thước lớn nhất, cánh ngắn, bụng dài, có màu nâu đen hoặc vàng; ong thợ có kích thước cơ thể nhỏ nhất, có màu 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vàng hoặc màu nâu xám hoặc đen xám có sọc vàng, bụng nhọn; ong đực có màu đen, cánh dài, bụng ngắn. Vị trí phân loại của ong Trong thế giới động vật, ong mật thuộc ngành chân đốt (Arthropoda) hay lớp 6 chân (Hecxapoda), phân ngành có ống khí (Tracheata). Lớp côn trùng (Insecta) Bộ cánh màng (Hymenoptera) Họ ong mật (Aptsdae) Giống ong mật (Apis) Trên thế giới hiện nay có 7 loài ong cho mật, trong đó ở Việt Nam có 4 loài chính: + Ong châu Âu (Ong ngoại): Apis mellifera (A.mellifera) + Ong Nội địa (Ong châu Á): Apis cerana (A.cerana) + Ong Khoái (Ong gác kèo): Apis dorsata (A.dorsata) + Ong Hoa (Ong muỗi): Apis florea (A.florea) Trong mỗi loài lại phân chia thành các phân loài khác nhau như: Đối với ong châu Âu (A.mellifera) có các phân loài: Ong Ý, ong Trung - Nga, ong Cacpat, ong Crain, ong vùng Capcazơ; Đối với ong châu Á A. Mỗi phân loài đó lại có nhiều dạng sinh thái - sinh học hình thành từ lâu đời dưới tác động của các yếu tố ngoại cảnh khác nhau và các đặc điểm thích nghi với điều kiện sống khác nhau.
Điều này dẫn đến các đặc điểm có ý nghĩa kinh tế đối với con người cũng khác nhau và có ý nghĩa rất to lớn trong công tác giống ong vì chúng bảo vệ và duy trì được tính đa dạng sinh học thông qua các hệ gen quý hiếm tồn tại trong tự nhiên [3]. Các loài ong ở Việt Nam Trong 4 loài ong được nuôi ở Việt Nam thì có 2 loài ong có giá trị kinh tế 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cao, được nuôi rộng rãi để lấy mật và các sản phẩm khác đó là ong nội (ong Châu Á) A.cerana và ong ngoại (ong châu Âu) A. Hai loài này có những đặc điểm khác nhau và bổ sung cho nhau. Còn một số loài ong hoang dã như ong khoái (A.laboriosa) hay ong hoa (A.florea) thì vẫn chưa được nghiên cứu, thuần hóa và việc khai thác mật của các loài này chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, chủ yếu mới dừng lại ở mức khai thác và săn bắt trong tự nhiên… Ong nội (Apis cerana) Hình 1.
Ong chúa của đàn ong nội Ong nội A.cerana là giống ong bản địa ở Việt Nam, Trung Quốc và một số nước khác. Ở nước ta, ong nội phân bố rộng khắp cả nước ngoại trừ rừng tràm U Minh. Ong nội có kích thước trung bình, đặc tính chăm chỉ, chịu được các điền kiện sống bất lợi, ít dịch bệnh, chất lượng mật tốt, mật ong bán được với giá thành cao. Tuy nhiên, ở ong nội năng suất mật thấp, ong khá hung dữ, dễ bốc bay và dễ chia đàn.
Do là loài ong bản xứ nên ong nội thích nghi tốt với nguồn hoa rải rác, điều kiện khí hậu hay thay đổi. Ong nội có thể nuôi từ các quy mô từ hộ gia đình tới nuôi chuyên nghiệp, nhưng nó thích hợp hơn với kiểu nuôi quy mô nhỏ trong gia đình với vốn đầu tư ban đầu thấp và chủ yếu là cung cấp sản phẩm phục vụ tiêu dùng trong nước. Năng suất mật ở ong nội chỉ đạt trung bình khoảng từ 10 - 15 kg/ đàn/năm. Để phát triển ong nội, người nuôi ong cần chọn các đàn có tính tụ đàn 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cao, chọn giống ong tốt và quan tâm tới phòng bệnh để nâng cao năng suất cũng như chất lượng mật [1].
Ong ngoại (Apis mellifera) Hình 1. Ong chúa của đàn ong ngoại Ong ngoại A.mellifera có nguồn gốc từ châu Âu, châu Phi, được nhập vào nước ta từ những năm 60 với hình thức thương mại và đã thích nghi tốt với điều kiện khí hậu và nguồn hoa ở nước ta. Đặc biệt ở vùng Nam Bộ và Tây Nguyên là những nơi có nguồn hoa tập trung (cao su, cà phê, bông trắng.) do đó năng suất mật của ong ngoại rất cao, bình quân đạt khoảng 25 - 30kg/đàn/năm. Loài ong này phát triển thích hợp với kiểu nuôi chuyên nghiệp với trình độ chuyên môn hóa cao, vốn đầu tư ban đầu lớn.
Ong ngoại có kích thước lớn hơn ong nội, chúng khá hiền, có khả năng tụ đàn và dự trữ mật cao hơn so với ong nội. Mật ong của ong ngoại chủ yếu là để xuất khẩu. Tuy nhiên, so với ong nội thì ong ngoại có sức chịu đựng kém nên ở những nơi có nguồn hoa rải rác và điều kiện khí hậu khắc nghiệt thì việc nuôi ong ngoại là không thể. Bên cạnh những giá trị kinh tế mà ong ngoại đem lại thì việc nhập ong A.mellifera cũng mang theo các loài ký sinh và bệnh như bệnh thối ấu trùng châu Âu, bệnh ấu trùng túi, bệnh bào tử trùng Nosema… gây nguy hại cho các loài ong bản địa.
Ở mỗi địa phương, trước khi lựa chọn nuôi giống ong nội hay ong ngoại thì người nuôi ong cần phải cân nhắc về số lượng cây, nguồn mật, khả năng đầu tư về thời gian cũng như nguồn vốn để quyết định [1]. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Miễn dịch học ở ong 1. Các hàng rào vật lý và hóa học Virus ong mật thường xâm nhập vào vật chủ qua đường tiêu hóa thông qua thức ăn hoặc do các chấn thương trên bề mặt cơ thể, mặc dù chúng cũng có thể trực tiếp đi vào máu qua vết cắn của ký sinh trùng hoặc côn trùng khác.
Cũng như những loài côn trùng khác, ong mật có thể sử dụng cả các hàng rào vật lý và hóa học để tránh nhiễm trùng. Cả hai hàng rào vật lý và hóa hoc đều là miễn dịch không đặc hiệu (mang tính chất bẩm sinh) ở ong mật. Các hàng rào vật lý bao gồm các bộ xương ngoài hay lớp biểu bì bên ngoài, lớp lót kitin của khí quản, niêm mạc lớp biểu bì của ruột trước và ruột sau. Các màng ngoài bao quanh ống tiêu hóa, một lớp lót kitin của ruột giữa, tạo thành một giao diện thứ hai bảo vệ các mô từ môi trường bên ngoài và cũng có chức năng như một rào cản thấm để giữ tác nhân gây bệnh mà xâm nhập từ nguồn thức ăn vào khoang máu thông qua thành ruột.
Ngoài ra, môi trường sinh hóa của ruột cũng có thể hình thành hàng rào hóa học ức chế sự nhân lên và lây lan của tác nhân gây bệnh đến các mô cơ thể. Miễn dịch tế bào Mặc dù các hàng rào vật lý và hóa học thường giữ cho tác nhân gây bệnh không xâm nhập vào cơ thể, tuy nhiên các tác nhân gây bệnh đôi khi vượt qua các hàng rào phòng thủ và bắt đầu nhân lên. Bất cứ khi nào các rào cản vật lý và hóa học bị phá vỡ, ong mật có thể chủ động tự bảo vệ mình khỏi bị nhiễm trùng bằng cách sử dụng một phản ứng miễn dịch tế bào đại diện cho tuyến phòng thủ thứ hai và nó xuất hiện ngay lập tức khi nhiễm trùng. Mục tiêu chính của hệ thống miễn dịch là nhận ra các mầm bệnh và sự khác biệt giữa các phân tử của cơ thể và các phân tử lạ bên ngoài.
Khi một vi sinh vật được nhận ra là các phân tử lạ, hệ thống miễn dịch được kích hoạt để gắn kết một phản ứng phòng thủ để giết hoặc loại bỏ những kẻ xâm nhập. Côn trùng thiếu globulin miễn dịch, sự nhận ra các phân tử lạ đạt được bằng các thụ thể (PRRS) - các protein miễn dịch được mã hóa để nhận ra các tác nhân gây bệnh liên quan (PAMPs) hiện diện trên bề mặt của vi sinh vật. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PRRC có hai nhóm: Các protein nhận biết peptidoglycan (PGRPs) và các protein liên kết Gram âm (GNBPs). Các liên kết của PAMPs với PGRPs và GNBPs kích hoạt các tầng thủy phân protein bao gồm serine, protease và serpins và kích hoạt con đường thủy phân dịch nội bào để kiểm soát biểu hiện peptide kháng khuẩn và một loạt các phản ứng phòng vệ tế bào không đặc hiệu bao gồm sự thực bào, hình thành nốt nhỏ, đóng gói và melanin hóa.
Đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào bị nhiễm trùng đã được cho là đặc trưng của ong mật [29]. Hai enzyme quan trọng là phenol oxidase và glucose dehydrogenase đóng một vai trò quan trọng trong việc tổng hợp melanin và cần thiết cho bảo vệ chống lại xâm nhập vi sinh vật và ký sinh trùng, có mặt trong máu của ong mật [47]. Các gen mã hóa serine, protease và serpins mà tham gia vào các liên kết của PAMPs với PGRPs và GNBPs đã được xác định trong bộ gen của loài ong mật, cho thấy ong mật có một hệ thống miễn dịch cho phép chúng bảo vệ chống lại các vi sinh vật và ký sinh trùng. Tuy nhiên, làm thế nào ong mật chống nhiễm virus qua phản ứng tự vệ trung gian tế bào vẫn chưa được xác định.
TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG MẬT ONG TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 1. Tình hình thị trường mật ong trên thế giới Trong những năm qua, thị trường mật ong thế giới có khá nhiều biến động, giá mật ong liên tục tăng cao. Theo số liệu thống kê năm 2013 của Hiệp hội nuôi ong quốc tế (APIMONDIA), sản lượng mật ong thế giới đạt khoảng 1,8 triệu tấn/năm.