Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xây dựng quy trình phát hiện nhanh virus cúm gia cầm a h5n1 trong mẫu bệnh phẩm bằng kỹ thuật multiplex reverse transcription polymerase chain reaction

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích nghiên cứu xây dựng quy trình phát hiện nhanh virus cúm gia cầm a h5n1 trong mẫu bệnh phẩm bằng kỹ, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2011

79
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẠI CƢƠNG VỀ VIRUS CÚM A/H5N1

1.1. Phân loại học và danh pháp

1.2. Phân loại virus cúm

1.3. Phân loại virus cúm A/H5N1

1.4. Các genotype của virus cúm A/H5N1

1.5. Các clade của virus cúm A/H5N1

1.6. Danh pháp virus cúm

1.7. Hình thái và cấu trúc virus cúm A/H5N1

1.8. Hệ gen và các protein của virus A/H5N1

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Kỹ thuật lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển mẫu

2.2.2. Tách chiết RNA mẫu bệnh phẩm

2.2.3. Thiế t kế mồ i

2.2.4. Tối ưu phản ứng RT-PCR phát hiện từng gen M, HA và NA

2.2.5. Tối ưu phản ứng Multiplex RT-PCR phát hiện virus A/H5N1

2.2.6. Thử nghiệm phản ứng Multiplex RT-PCR trên mẫu bệnh phẩm

2.2.7. Điện di và phân tích kết quả

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thiết kế mồi

3.1.1. Thiết kế mồi đặc hiệu cho gen M của virus cúm A

3.1.2. Thiết kế mồi đặc hiệu cho gen HA của virus cúm A/H5N1

3.1.3. Thiết kế mồi đặc hiệu cho gen NA của virus cúm A/H5N1

3.2. Tối ƣu phản ứng RT-PCR phát hiện từng gen M, HA và NA

3.2.1. Tối ưu nhiệt độ gắn mồi

3.2.2. Tối ưu nồng độ mồi

3.2.3. Tối ưu thời gian kéo dài chuỗi

3.3. Đánh giá độ nhạy của phản ứng RT-PCR

3.4. Đánh giá độ đặc hiệu của phản ứng RT-PCR

3.5. Tối ƣu phản ứng multiplex RT-PCR phát hiện virus A/H5N1

3.5.1. Tối ưu nhiệt độ gắn mồi

3.5.2. Tối ưu nồng độ mồi

3.5.3. Tối ưu thời gian kéo dài chuỗi

3.5.4. Tối ưu số chu kỳ phản ứng

3.6. Đánh giá độ nhạy của phản ứng multiplex RT-PCR

3.7. Đánh giá độ đặc hiệu của phản ứng multiplex RT-PCR

3.8. Ứng dụng kỹ thuật multiplex RT-PCR phát hiện virus A/H5N1 trên mẫu bệnh phẩm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát hiện virus cúm A H5N1 bằng RT PCR

Virus cúm A/H5N1 là một trong những mối đe dọa lớn đối với sức khỏe cộng đồng và ngành chăn nuôi gia cầm. Việc phát hiện nhanh chóng virus này là rất quan trọng để kiểm soát dịch bệnh. Kỹ thuật RT-PCR (Reverse Transcription Polymerase Chain Reaction) đã trở thành phương pháp chính trong việc phát hiện virus cúm A/H5N1. Kỹ thuật này cho phép phát hiện virus với độ nhạy và độ chính xác cao, giúp các cơ quan y tế có thể đưa ra các biện pháp kịp thời nhằm ngăn chặn sự lây lan của virus.

1.1. Virus cúm A H5N1 và tầm quan trọng của việc phát hiện

Virus cúm A/H5N1 có khả năng gây bệnh nghiêm trọng cho cả gia cầm và con người. Việc phát hiện sớm virus này giúp ngăn chặn sự lây lan và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, virus này đã gây ra nhiều ca tử vong trên toàn cầu, đặc biệt là ở các nước châu Á. Do đó, việc phát hiện nhanh chóng và chính xác là rất cần thiết.

1.2. Kỹ thuật RT PCR trong phát hiện virus cúm A H5N1

RT-PCR là một kỹ thuật sinh học phân tử cho phép phát hiện RNA của virus cúm A/H5N1. Kỹ thuật này có độ nhạy cao, cho phép phát hiện virus ngay cả khi nồng độ virus trong mẫu bệnh phẩm rất thấp. Thời gian thực hiện xét nghiệm RT-PCR thường từ 4-6 giờ, giúp các cơ quan y tế có thể nhanh chóng đưa ra các biện pháp ứng phó.

II. Thách thức trong việc phát hiện virus cúm A H5N1

Mặc dù kỹ thuật RT-PCR mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức trong việc phát hiện virus cúm A/H5N1. Đầu tiên, virus này có khả năng biến đổi gen nhanh chóng, dẫn đến việc các phương pháp phát hiện có thể không còn hiệu quả. Thứ hai, việc thu thập và bảo quản mẫu bệnh phẩm cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

2.1. Khả năng biến đổi gen của virus cúm A H5N1

Virus cúm A/H5N1 có khả năng biến đổi gen rất nhanh, điều này làm cho việc phát hiện trở nên khó khăn hơn. Các chủng virus mới có thể không được phát hiện bởi các bộ kit xét nghiệm hiện có, dẫn đến nguy cơ lây lan dịch bệnh. Việc theo dõi và cập nhật các chủng virus mới là rất cần thiết.

2.2. Vấn đề trong thu thập và bảo quản mẫu bệnh phẩm

Quá trình thu thập và bảo quản mẫu bệnh phẩm cần được thực hiện một cách cẩn thận để đảm bảo tính chính xác của kết quả xét nghiệm. Nếu mẫu không được bảo quản đúng cách, RNA của virus có thể bị phân hủy, dẫn đến kết quả âm tính giả. Do đó, việc đào tạo nhân viên y tế trong quy trình thu thập mẫu là rất quan trọng.

III. Phương pháp RT PCR trong phát hiện virus cúm A H5N1

Phương pháp RT-PCR được sử dụng để phát hiện virus cúm A/H5N1 thông qua việc khuếch đại RNA của virus trong mẫu bệnh phẩm. Kỹ thuật này có thể được thực hiện theo hai cách: RT-PCR thông thường và multiplex RT-PCR. Multiplex RT-PCR cho phép phát hiện nhiều loại virus trong cùng một mẫu, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí.

3.1. Quy trình thực hiện RT PCR thông thường

Quy trình RT-PCR thông thường bao gồm ba bước chính: tách chiết RNA, tổng hợp cDNA và khuếch đại sản phẩm. Mỗi bước cần được thực hiện cẩn thận để đảm bảo độ chính xác của kết quả. Thời gian thực hiện cho quy trình này thường kéo dài từ 12-24 giờ.

3.2. Lợi ích của kỹ thuật multiplex RT PCR

Kỹ thuật multiplex RT-PCR cho phép phát hiện đồng thời nhiều gen của virus cúm A/H5N1 trong cùng một phản ứng. Điều này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn giảm thiểu chi phí xét nghiệm. Kỹ thuật này đang được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trong các phòng xét nghiệm hiện đại.

IV. Ứng dụng thực tiễn của RT PCR trong phát hiện virus cúm A H5N1

Kỹ thuật RT-PCR đã được áp dụng rộng rãi trong việc phát hiện virus cúm A/H5N1 tại nhiều quốc gia. Các phòng xét nghiệm có thể sử dụng kỹ thuật này để theo dõi sự lây lan của virus và đưa ra các biện pháp phòng ngừa kịp thời. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng RT-PCR có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong việc phát hiện virus cúm A/H5N1.

4.1. Kết quả nghiên cứu về độ nhạy của RT PCR

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng kỹ thuật RT-PCR có thể phát hiện virus cúm A/H5N1 với độ nhạy lên đến 95%. Điều này cho thấy kỹ thuật này là một công cụ hữu hiệu trong việc phát hiện sớm virus, từ đó giúp các cơ quan y tế có thể ứng phó kịp thời.

4.2. Ứng dụng RT PCR trong kiểm soát dịch bệnh

Việc áp dụng RT-PCR trong kiểm soát dịch bệnh đã giúp nhiều quốc gia ngăn chặn sự lây lan của virus cúm A/H5N1. Các cơ quan y tế có thể nhanh chóng xác định các trường hợp nhiễm bệnh và thực hiện các biện pháp cách ly cần thiết, từ đó bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

V. Kết luận và tương lai của phát hiện virus cúm A H5N1

Phát hiện nhanh virus cúm A/H5N1 bằng kỹ thuật RT-PCR là một bước tiến quan trọng trong việc kiểm soát dịch bệnh. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp mới để nâng cao độ nhạy và độ chính xác của kỹ thuật này. Tương lai của việc phát hiện virus cúm A/H5N1 sẽ phụ thuộc vào khả năng ứng dụng các công nghệ mới và cải tiến quy trình xét nghiệm.

5.1. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Các nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển các bộ kit xét nghiệm mới có khả năng phát hiện nhanh chóng và chính xác các chủng virus mới. Việc cải tiến quy trình xét nghiệm cũng sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong việc phát hiện virus cúm A/H5N1.

5.2. Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức cộng đồng

Nâng cao nhận thức của cộng đồng về virus cúm A/H5N1 và các biện pháp phòng ngừa là rất quan trọng. Các chiến dịch truyền thông cần được triển khai để giáo dục người dân về cách phòng tránh lây nhiễm và tầm quan trọng của việc phát hiện sớm virus.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xây dựng quy trình phát hiện nhanh virus cúm gia cầm a h5n1 trong mẫu bệnh phẩm bằng kỹ thuật multiplex reverse transcription polymerase chain reaction

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, dịch cúm gia cầm do virus A/H5N1 là vấn đề quan tâm đối với cả thế giới, đặc biệt là đối với các nước châu Á như Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc. Kể từ cuối năm 2003 đến nay, dịch cúm A/H5N1 đã gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm và gây tử vong cho hàng trăm người. Cả thế giới đang lo sợ trước nguy cơ có thể xảy ra một đại dịch cúm trên người do virus A/H5N1 giống như các vụ đại dịch cúm đã xảy ra trong thế kỷ 20. Các nước trên thế giới đã tiêu tốn hàng tỷ đô la cho việc chuẩn bị chống lại một đại dịch cúm H5N1 có thể xảy ra trong tương lai như mua thuốc và các thiết bị y tế, nghiên cứu sản xuất vaccine, thực hành các phương án phòng chống dịch, thực hiện các chiến lược nhằm kiểm soát chặt chẽ đường biên giới.

Ở Việt Nam, kể từ năm 2003 đến nay, dịch cúm gia cầm liên tục xảy ra ở hầu hết các tỉnh thành trên toàn quốc. Mỗi năm có hàng triệu gia cầm bị chết và tiêu hủy. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, Việt Nam đang đứng thứ 2 trên thế giới (sau Indonesia) về số người nhiễm và tử vong do virus A/H5N1. Virus cúm A/H5N1 là virus có khả năng biến đổi gen nhanh chóng và hình thành nên các chủng virus mới nên việc sử dụng vaccine để dự phòng thường không đạt được hiệu quả cao.

Ở Việt Nam hiện nay, dịch cúm A/H5N1 vẫn liên tục xảy ra trên gia cầm và người, mặc dù mức độ không trầm trọng như giai đoạn trước đây nhưng nếu không được phát hiện và có các biện pháp dập dịch kịp thời thì dịch có thể trở nên bùng phát. Khi có dịch cúm gia cầm, một phương pháp chẩn đoán nhanh, nhạy và chính xác là cần thiết cho việc điều trị, kiểm soát và ngăn chặn kịp thời tránh lây lan rộng ra cộng đồng. Để phát hiện virus cúm A/H5N1 trong các mẫu bệnh phẩm ở người và gia cầm, hiện nay hầu hết các phòng xét nghiệm đều áp dụng kỹ thuật RT-PCR (Reverse Transcription - Polymerase Chain Reaction). Đây là kỹ thuật sinh học phân tử, cho phép phát hiện virus với độ chính xác cao, thời gian làm xét nghiệm khoảng 4-6 giờ nếu thực hiện Realtime RT-PCR và 12-24 giờ nếu thực hiện RT- 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PCR và điện di trên gel agarose.

Với RT-PCR thông thường, người ta phải thực hiện ba phản ứng để chẩn đoán xác định virus cúm A/H5N1, bao gồm: một phản ứng để xác định virus cúm A, một phản ứng xác định subtype H5 và một phản ứng xác định subtype N1. Để đơn giản hóa quá trình xét nghiệm, rút ngắn thời gian xét nghiệm và tiết kiệm chi phí người ta có thể ứng dụng kỹ thuật multiplex RT-PCR, cho phép chẩn đoán xác định cúm A/H5N1 chỉ với một phản ứng RT-PCR thay vì phải làm ba phản ứng RT-PCR. Tuy nhiên, việc nghiên cứu thiết kế và xây dựng quy trình thực hiện kỹ thuật multiplex RT-PCR khá phức tạp nên hiện nay hầu hết các phòng xét nghiệm trong nước chưa áp dụng kỹ thuật này trong chẩn đoán cúm A/H5N1. Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện ”Nghiên cứu xây dựng quy trình phát hiện nhanh virus cúm gia cầm A/H5N1 trong mẫu bệnh phẩm bằng kỹ thuật Multiplex Reverse Transcription Polymerase Chain Reaction” tại Labo Trường Đại học Y Thái Bình với mục tiêu: 1.

Thiết kế và lựa chọn được các mồi phù hợp để thực hiện phản ứng multiplex RT-PCR phát hiện virus cúm A/H5N1. Nghiên cứu tối ưu hóa được các điều kiện của phản ứng multiplex RT-PCR: nhiệt độ và thời gian gắn mồi, nồng độ mồi,. Thử nghiệm được phản ứng multiplex RT-PCR phát hiện A/H5N1 trên một số mẫu bệnh phẩm thu thập từ người và gia cầm. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1.

ĐẠI CƢƠNG VỀ VIRUS CÚM A/H5N1 1. Phân loại học và danh pháp 1. Phân loại virus cúm Theo ủy ban Quốc tế về phân loại virus (ICTV - International Committee on Taxonomy of Viruses), virus cúm thuộc nhóm V, họ Orthormyxoviridae, gồm 3 type là A, B và C. Chúng là các virus có vật liệu di truyền là RNA sợi đơn âm [32].

Sự phân biệt virus cúm A, B và C dựa trên sự khác nhau về đặc tính kháng nguyên của nucleoprotein (NP) và protein nền M1 (matrix protein). Ngoài ra, hệ gen của virus cúm A và B đều có 8 đoạn RNA còn virus cúm C chỉ có 7 đoạn RNA [36]. Trong 3 type thì type A là virus có giới hạn vật chủ rất rộng, lưu hành phổ biến trên gia cầm và một số động vật có vú như lợn, ngựa, chó, mèo, hải cẩu,… và cả con người [32]. Virus cúm A là loại có độc lực mạnh nhất, có khả năng biến đổi gen rất lớn và nguyên nhân chủ yếu gây ra các vụ đại dịch cúm trong thế kỷ qua.

Dựa vào sự khác biệt về đặc tính kháng nguyên của hai glycoprotein là haemagglutinin (HA) và neuraminidase (NA), virus cúm A còn được chia thành 16 subtype HA (H1-H16) và 9 subtype NA (N1-N9). Sự tái tổ hợp giữa các subtype HA và NA, về mặt lý thuyết sẽ tạo ra nhiều subtype khác nhau về độc tính và khả năng gây bệnh [2]. Tất cả các subtype HA và NA đều hiện diện trên các chủng virus lưu hành ở các loài thủy cầm hoang dã. Tuy nhiên, chỉ có một số subtype nhất định thường xuyên lưu hành trên người như H1N1, H1N2, H2N2, H3N2 [11].

Cúm A/H5N1 là một subtype có khả năng gây nhiễm cao của virus cúm. Các chủng của virus cúm gia cầm có thể xâm nhiễm vào nhiều loại động vật khác nhau như chim, lợn, ngựa, hải cẩu, cá voi và con người. Virus cúm B và virus cúm C lưu hành chủ yếu trên người và chỉ gây ra các vụ dịch ở mức độ vừa và nhỏ. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Phân loại virus cúm A/H5N1 Virus cúm A/H5N1 được phân biệt với các subtype virus cúm A khác dựa trên sự khác biệt về đặc tính kháng nguyên HA và NA. Do có khả năng biến đổi di truyền nhanh chóng nên các chủng virus cúm A/H5N1 đang lưu hành còn được phân chia thành nhiều clade/subclade (nhóm/phân nhóm), mỗi clade/subclade có các đặc điểm di truyền đặc trưng [2]. Các genotype của virus cúm A/H5N1 Trong những năm gần đây virus cúm A/H5N1 đã có những biến đổi di truyền và được phân chia thành nhiều nhóm dựa vào sự khác biệt về kiểu gen (genotype). Kiểu gen của virus cúm A/H5N1 thể hiện đặc điểm di truyền của virus được hình thành do sự kết hợp của 8 phân đoạn gen.

Trên cơ sở gen H5 và N1 của chủng gốc Goose/Guangdong/1/96, virus A/H5N1 được phân chia thành các kiểu gen khác nhau với các đặc điểm di truyền được hình thành do sự tái tổ hợp 6 gen còn lại từ các nguồn khác nhau. Các kiểu gen khác nhau của virus cúm A/H5N1 đã được xác định bao gồm A, B, C, D, E, G, V, W, X0, X1, X2, X3, Y, Z và Z+ [26]. Trong số các kiểu gen này, chỉ có một số kiểu gen (B, Z, Z+, V, G, W, và X0) lưu hành được trên 2 năm, chứng tỏ chúng đã thích nghi để có thể tồn tại [22]. Kiểu gen Z là kiểu gen lưu hành phổ biến ở Indonesia, Thái Lan, Việt Nam và phía nam Trung Quốc từ năm 2003 đến nay [14].

Các clade của virus cúm A/H5N1 Các tổ chức WHO (World Health Organization), OIE (Organisation for Animal Health) và FAO (Food and Agriculture Organization) đã cùng nhau xây dựng một hệ thống danh pháp thống nhất để có thể xác định các clade A/H5N1 [50]. Hiện nay, hệ thống danh pháp này chia virus A/H5N1 thành 10 clade khác nhau, mỗi clade còn có thể phân thành các subclade (phân dòng) [5, 46]. Hiện tại chỉ có các virus thuộc clade 0, 1, 2 và 7 là lây nhiễm cho người. Clade 2 gồm một số subclade khác nhau vẫn đang lưu hành và tiếp tục hình thành các subclade mới [5].

Kể từ 2008, các clade A/H5N1 hiện đang lưu hành và gây bệnh ở người gồm có 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Danh pháp virus cúm Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã quy định thống nhất danh pháp của virus cúm theo thứ tự kí hiệu: type virus (A, B hoặc C), vật chủ (có thể bỏ qua nếu vật chủ là người), địa điểm phân lập virus, mã số chủng virus và năm phân lập. Nếu là virus cúm A thì phải thêm kí hiệu của kháng nguyên HA và kháng nguyên NA đặt trong dấu ngoặc đơn. Ví dụ: A/Hong Kong/156/1997 (H5N1) là chủng virus cúm A ở người, phân lập ở Hong Kong, mã số chủng là 156, phân lập năm 1997, có kháng nguyên HA là H5 và kháng nguyên NA là N1.

A/Chicken/Vietnam/G62/2005 (H5N1) là chủng virus cúm A phân lập ở gà tại Việt Nam năm 2005, mã số chủng là G62, kháng nguyên HA là H5 và kháng nguyên NA là N1. Hình thái và cấu trúc virus cúm A/H5N1 Virus cúm H 5N1 là một subtype của virus cúm A , thuô ̣c ho ̣ Orthomyxoviridea. Virus cúm A/H5N1 mang các đă ̣c điể m của virus cúm A (hình 1. Cấu trúc của virus cúm A.com/news/6684/ human-antibodies-neutralize-avian-flu.html 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Virus cúm A là virus có vỏ bọc, cấu trúc dạng hình cầu với đường kính từ 80- 120 nm (nanomet) hoặc hình sợi dài 200-300 nm, đường kính 20 nm.

Vỏ bọc của virus là lớp màng lipid kép có nguồn gốc từ tế bào vật chủ, trên màng có khoảng 500 cấu trúc hình gai nhô ra. Các cấu trúc này chính là các kháng nguyên bề mặt của virus, dài khoảng 10-14 nm, đường kính 4-6 nm, bản chất là các glycoprotein HA, NA và M2 nằm xen kẽ với nhau. Sự phân bố của các kháng nguyên trên bề mặt của hạt virus không đồng đều, tỉ lệ HA/NA khoảng 4-5/1. Bên trong màng lipid được lót bởi một lớp protein nền M1 (khoảng 3000 phân tử M1) [36].

Vật chất di truyền (hệ gen) của virus cúm A là RNA sợi đơn âm (-)ssRNA, gồm 8 phân đoạn riêng biệt mã hóa cho 10 hoặc 11 protein virus (tùy theo từng chủng virus mà có thể có hoặc không có protein PB 1-F2). Bên trong hạt virus, mỗi phân đoạn đều liên kết với nucleoprotein (NP) và 3 tiểu đơn vị của enzyme polymerase (bao gồm PB1, PB2, và PA) hình thành nên các phức hợp ribonucleoprotein (viral ribonucleoprotein - vRNP) [37]. Hệ gen và các protein của virus A/H5N1 H5N1 có hệ gen là RNA sợi đơn âm bao gồm 8 phân đoạn gen mang tên từ 1-8 với kích thước phân tử giảm dần hoặc gọi theo tên protein mà chúng mã hóa tổng hợp là PB2, PB1, PB1-F2, PA, HA, NP, NA, M (M1 và M2) và NS (NS1 và NEP) (hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ