Những vấn đề pháp lý về đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích các vấn đề pháp lý trong đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh cải cách kinh tế hiện nay.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2008

213
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1.1.1. Quan niệm về doanh nghiệp nhà nước

1.1.2. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong các nền kinh tế

1.1.3. Đặc điểm và phân loại doanh nghiệp nhà nước

1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1.2.1. Vấn đề đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước ở một số nước trên thế giới

1.2.2. Vấn đề đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

1.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

2.1. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

2.1.1. Khái quát hệ thống pháp luật quy định chung về vấn đề đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

2.1.2. Thực trạng hệ thống pháp luật về những hình thức pháp lý đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

2.2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

2.2.1. Kết quả của quá trình thực hiện pháp luật về đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

2.2.2. Đánh giá về quá trình thực hiện pháp luật về đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

2.2.3. Nguyên nhân cơ bản của những ưu điểm, hạn chế

2.3. THỰC TRẠNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CHUYỂN ĐỔI Ở VIỆT NAM

2.3.1. Khái quát về thực trạng các doanh nghiệp nhà nước sau quá trình đổi mới, phát triển ở Việt Nam

2.3.2. Thực trạng các doanh nghiệp nhà nước sau khi chuyển thành công ty cổ phần ở Việt Nam

2.3.3. Thực trạng các doanh nghiệp nhà nước sau khi chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

2.3.4. Thực trạng tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước sau chuyển đổi ở Việt Nam

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

3.1. PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG THỜI GIAN TỚI Ở VIỆT NAM

3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG THỜI GIAN TỚI Ở VIỆT NAM

3.2.1. Tăng cường quản lý việc đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước

3.2.2. Đẩy mạnh việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp lý đổi mới doanh nghiệp nhà nước Việt Nam

Pháp lý đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam đã trở thành một chủ đề nóng trong bối cảnh cải cách kinh tế hiện nay. Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhưng vẫn gặp nhiều thách thức trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động. Việc cải cách pháp lý nhằm thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước là cần thiết để thích ứng với môi trường kinh tế thị trường.

1.1. Định nghĩa và vai trò của doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghiệp nhà nước là loại hình doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu và quản lý. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam là rất quan trọng, đặc biệt trong việc cung cấp dịch vụ công và đảm bảo an sinh xã hội.

1.2. Lịch sử phát triển pháp lý doanh nghiệp nhà nước

Quá trình phát triển pháp lý cho doanh nghiệp nhà nước bắt đầu từ những năm 1980, với các chính sách cải cách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Những thay đổi này đã tạo ra một khung pháp lý cần thiết cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp nhà nước.

II. Những thách thức pháp lý trong đổi mới doanh nghiệp nhà nước

Mặc dù đã có nhiều cải cách, nhưng doanh nghiệp nhà nước vẫn đối mặt với nhiều thách thức pháp lý. Các vấn đề như cơ chế quản lý, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

2.1. Cơ chế quản lý và điều hành doanh nghiệp nhà nước

Cơ chế quản lý hiện tại chưa thực sự phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Sự can thiệp của các cơ quan nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp nhà nước vẫn còn quá sâu, dẫn đến tình trạng kém hiệu quả.

2.2. Tính minh bạch và trách nhiệm giải trình

Tính minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế, gây khó khăn trong việc giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động. Điều này cần được cải thiện để nâng cao niềm tin của công chúng và nhà đầu tư.

III. Phương pháp cải cách pháp lý doanh nghiệp nhà nước hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, cần có những phương pháp cải cách pháp lý đồng bộ và hiệu quả. Các giải pháp này không chỉ giúp doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả hơn mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng.

3.1. Tăng cường quản lý và giám sát

Cần thiết phải tăng cường quản lý và giám sát hoạt động của doanh nghiệp nhà nước thông qua việc áp dụng các tiêu chuẩn và quy định rõ ràng. Điều này sẽ giúp nâng cao trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

3.2. Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Cổ phần hóa là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Việc này không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước mà còn tạo ra động lực cho doanh nghiệp phát triển.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về doanh nghiệp nhà nước

Nghiên cứu về pháp lý đổi mới doanh nghiệp nhà nước đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực trong việc cải cách và phát triển. Những ứng dụng thực tiễn từ các mô hình doanh nghiệp thành công có thể được áp dụng rộng rãi hơn.

4.1. Các mô hình doanh nghiệp nhà nước thành công

Một số doanh nghiệp nhà nước đã áp dụng thành công các mô hình quản lý hiện đại, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh. Những mô hình này có thể được nhân rộng trong toàn bộ khu vực doanh nghiệp nhà nước.

4.2. Kết quả từ các nghiên cứu thực tiễn

Các nghiên cứu thực tiễn cho thấy rằng việc cải cách pháp lý đã mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp nhà nước, từ việc nâng cao hiệu quả hoạt động đến việc cải thiện hình ảnh của doanh nghiệp trong mắt công chúng.

V. Kết luận và tương lai của pháp lý đổi mới doanh nghiệp nhà nước

Kết luận cho thấy rằng việc đổi mới pháp lý cho doanh nghiệp nhà nước là một quá trình cần thiết và liên tục. Tương lai của doanh nghiệp nhà nước phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các thay đổi trong môi trường kinh tế và pháp lý.

5.1. Định hướng phát triển doanh nghiệp nhà nước

Định hướng phát triển doanh nghiệp nhà nước trong tương lai cần tập trung vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh. Điều này đòi hỏi sự thay đổi trong tư duy quản lý và chính sách pháp lý.

5.2. Những khuyến nghị cho cải cách pháp lý

Cần có những khuyến nghị cụ thể cho việc cải cách pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Những khuyến nghị này cần được xây dựng dựa trên thực tiễn và kinh nghiệm từ các nước khác.

19/08/2025
Luận văn thạc sĩ những vấn đề pháp lý về đổi mới phát triển doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện cải cách kinh tế ở nước ta hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1. Quan niệm về doanh nghiệp nhà nƣớc 1. Quan niệm chung của các quốc gia về doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước là một loại hình doanh nghiệp tồn tại phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, dù ở các nước đó có sự khác biệt về mô hình kinh tế.

Tuy nhiên, vị trí, vai trò, phạm vi hoạt động, mức độ đầu tư, sự định hướng và quản lý của mỗi nhà nước đối các doanh nghiệp nhà nước luôn có những nét đặc thù, riêng biệt. Quan niệm về doanh nghiệp nhà nước ở các nước trên thế giới không hoàn toàn giống nhau và khái niệm này cũng có sự thay đổi theo thời gian. Cộng đồng châu Âu xác định: "Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp mà chính phủ trung ương hoặc địa phương có thể dựa vào quyền sở hữu, quyền khống chế cổ phần hoặc các điều lệ quản lý đối với doanh nghiệp đã gây ảnh hưởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với chúng" [99, tr. Theo định nghĩa này, doanh nghiệp nhà nước trước hết là doanh nghiệp mà chính phủ trung ương và chính quyền địa phương là người sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp, phần sở hữu cổ phần của chính phủ có thể là 100% hoặc một tỷ lệ khống chế tùy theo điều lệ công ty và có thể, nhà nước chỉ nắm cổ phần đến mức đủ khống chế và chi phối doanh nghiệp.

Định nghĩa trên đây, về cơ bản dựa theo tiêu chí sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần trong doanh nghiệp, một doanh nghiệp mà nhà nước nắm toàn bộ sở hữu hoặc nắm phần chi phối về vốn góp hoặc cổ phần, có thể được hiểu là doanh nghiệp nhà nước. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), doanh nghiệp nhà nước được định nghĩa là các tổ chức kinh tế thuộc sở hữu nhà nước hoặc do nhà nước kiểm soát, có thu nhập chủ yếu từ sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ [79, tr. Khái niệm trên cũng dựa trên dấu hiệu sở hữu của nhà nước đối với cổ phần của doanh nghiệp, là tiêu chí để phân biệt với các loại hình doanh nghiệp khác; xác định doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh tế nên có thu nhập chủ yếu là từ các hoạt động kinh tế (sản xuất, tiêu thụ hàng hóa hay cung cấp dịch vụ trên thị trường), để phân biệt với các tổ chức sự nghiệp hoạt động bằng ngân sách nhà nước. Ở Pháp, doanh nghiệp nhà nước được pháp luật quy định là doanh nghiệp đáp ứng đủ các điều kiện: Quyền sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp mang tính công hữu, nhờ đó chính phủ xác lập được địa vị lãnh đạo đối với doanh nghiệp; có tư cách pháp nhân độc lập; thực hiện các hoạt động thương mại độc lập [99, tr.

Quy định này nhấn mạnh dấu hiệu sở hữu và nắm quyền chi phối của nhà nước đối với doanh nghiệp, nhờ đó có thể phân biệt được doanh nghiệp nhà nước với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác; đồng thời, khẳng định doanh nghiệp nhà nước cũng là một pháp nhân độc lập, mặc dù do nhà nước quản lý nhưng độc lập trong hoạt động; bên cạnh đó cũng xác định doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh, để phân biệt với các tổ chức hành chính sự nghiệp hoạt động bằng ngân sách nhà nước. Ở Anh, vào năm 1956 khi Chính phủ Anh thành lập ủy ban đặc biệt về quốc hữu hóa để thực hiện quốc hữu hóa về công nghiệp, đã quy định doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp có hội đồng quản trị do Chính phủ bổ nhiệm; có tài khoản kinh doanh do ủy ban quốc hữu hóa công nghiệp của Chính phủ kiểm tra; có thu nhập từ hoạt động kinh doanh mà không dựa vào sự cung cấp nhà nước. Quan niệm này cho thấy, doanh nghiệp nhà nước phải là doanh nghiệp mà nhà nước nắm quyền chi phối và kiểm soát được về mặt tổ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chức và tài chính; phải là một tổ chức kinh tế có thu nhập chủ yếu được hình thành từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cách độc lập mà không phải do nhà nước cung cấp. Một số tổ chức quốc tế như Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), hay Liên hợp quốc (UN) quan niệm doanh nghiệp nhà nước là "những doanh nghiệp do nhà nước nắm toàn bộ hoặc một phần sở hữu và nhà nước kiểm soát tới một mức độ nhất định quá trình ra quyết định của doanh nghiệp" [97].

Định nghĩa này tuy chưa đưa ra những định lượng cụ thể nhưng đã đưa ra những dấu hiệu có tính định tính nói trên để xác định về mặt nguyên tắc, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ toàn bộ hoặc chi phối đến một mức độ nhất định quyền sở hữu cũng như quyền quản lý và hoạt động của doanh nghiệp. Các nước khác, như: Thụy Điển, Phần Lan, Brazin, Mêhicô…cũng đều xác định doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ trên 50% vốn của doanh nghiệp [97]. Các định nghĩa trên đây đều dựa trên tiêu chí quyền sở hữu và theo đó, quyền sở hữu là nguyên tắc chi phối tới loại hình doanh nghiệp. Khi nhà nước sở hữu trên 50% vốn trong tổng số vốn góp hoặc cổ phần của doanh nghiệp thì nhà nước nắm quyền chi phối doanh nghiệp và doanh nghiệp trở thành doanh nghiệp nhà nước.

Như vậy, về mặt bản chất, quyền chi phối doanh nghiệp là hệ quả tất yếu của quyền sở hữu cổ phần trong công ty và khi xem xét doanh nghiệp nhà nước cũng cần xuất phát từ tiêu chí quyền sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần trong công ty để xác định những doanh nghiệp mà nhà nước sở hữu trên 50% vốn là doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, luật pháp ở nhiều nước chỉ định nghĩa rằng, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ trên 50% phần vốn góp hoặc cổ phần của doanh nghiệp, đó là điều kiện cần và đủ. Việc xem xét thêm tiêu chí quyền quản lý hay chi phối thường là không cần thiết vì nó là hệ quả của quyền sở hữu phần vốn doanh nghiệp mà không phải là một tiêu chí mới. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Quan niệm của Việt Nam về doanh nghiệp nhà nước Ở nước ta, sau ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, năm 1945, khi Nhà nước thực hiện việc quốc hữu hóa các cơ sở công nghiệp của chế độ cũ, đã xuất hiện các doanh nghiệp quốc gia và được định nghĩa "là một doanh nghiệp thuộc sở hữu của quốc gia và do quốc gia điều khiển" [50, Điều 2]. Sau khi mô hình và cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bắt đầu được du nhập từ Trung Quốc, Liên Xô vào miền Bắc, khu vực kinh tế nhà nước (kinh tế quốc doanh) được quan tâm phát triển trên cơ sở nền tảng của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa là sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất. Trong thời kỳ này, khu vực kinh tế quốc doanh được tổ chức thành các loại hình doanh nghiệp có tên gọi khác nhau, như: Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp; nông trường quốc doanh trong lĩnh vực nông nghiệp; lâm trường trong lĩnh vực lâm nghiệp; công ty trong lĩnh vực thương nghiệp. Trong bản Điều lệ về xí nghiệp công nghiệp quốc doanh (điều lệ đầu tiên) do Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 93/CP ngày 8-4-1977, thì khái niệm xí nghiệp công nghiệp quốc doanh đã được hình thành, đó là "đơn vị cơ sở sản xuất và kinh doanh của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thống nhất, là nơi trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội và tạo nguồn tích lũy xã hội chủ nghĩa".

Bản điều lệ này cũng xác định cơ chế quản lý đối với các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh. "Xí nghiệp sản xuất và kinh doanh theo kế hoạch nhà nước được quyết định từ trung ương trên những chỉ tiêu chủ yếu nằm trong cân đối chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và được xây dựng từ cơ sở" (Điều 1). Đây là một định nghĩa mang dấu ấn chính trị, chủ yếu nhấn mạnh vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế, trong việc thực hiện những nhiệm vụ kinh tế, xã hội của Nhà nước, là công cụ của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa và cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung của thời kỳ này mà 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không đề cập trực tiếp đến yếu tố sở hữu. Việc xác định vấn đề sở hữu đối với doanh nghiệp được coi là không cần thiết vì trong thời kỳ này, Nhà nước tuyệt đối không chia sẻ về quyền sở hữu trong các tổ chức kinh tế cho các chủ thể khác.

Tất nhiên, nếu xét về bản chất kinh tế thì các xí nghiệp đó, luôn được hiểu rằng, thuộc sở hữu nhà nước và Nhà nước cũng không chia sẻ với bất kỳ tổ chức, cá nhân nào về quyền sở hữu đối với chúng. Do có sự thay đổi nhất định về điều kiện kinh tế - xã hội và nhận thức nên tới năm 1988, Chính phủ đã ban hành bản Điều lệ mới để thay thế bản Điều lệ năm 1977, trong đó đã định nghĩa: "Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh (xí nghiệp độc lập, xí nghiệp liên hợp) là đơn vị kinh tế cơ sở, khâu cơ bản của nền kinh tế quốc dân xã hội chủ nghĩa; là đơn vị sản xuất hàng hóa có kế hoạch nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Có tư cách pháp nhân và hạch toán độc lập". Định nghĩa này, ngoài việc khẳng định vị trí, vai trò của xí nghiệp quốc doanh trong nền kinh tế, giống như bản Điều lệ năm 1977, đã nêu ra một số dấu hiệu có ý nghĩa quyết định đến địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà nước, thể hiện nó là một tổ chức kinh tế với những quyền nhất định trong kinh doanh, quan hệ dân sự và sự tự chủ về mặt tài chính.

Đó là dấu hiệu về tư cách pháp nhân và về hạch toán kinh tế độc lập.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ