Chương 1, Điều 2 (Định nghĩa thuật ngữ) trong phiên bản sửa đổi năm 2002 quy định: Thuật ngữ "chứng khoán" trong luật này có nghĩa là những công cụ dưới đây: Trái phiếu Chính phủ; Trái phiếu chính quyền địa phương; Trái phiếu phát hành bởi công ty được thành lập theo Đạo luật cụ thể; Trái phiếu công ty; Các chứng chỉ tham gia/đóng góp phát hành bởi công ty được thành lập theo Đạo luật cụ thể; Chứng chỉ cổ phiếu hay các công cụ đại diện cho quyền mua ưu tiên; Các chứng chỉ hay công cụ do doanh nghiệp nước ngoài phát hành, có cùng bản chất với các công cụ được liệt kê từ khoản 1 đến khoản 6 Điều này; Chứng chỉ lưu ký chứng khoán phát hành bởi đối tượng được quy định trong Nghị định (Presidential Decree) trên cơ sở chứng chỉ/công cụ gốc do doanh nghiệp nước ngoài phát hành…, và Các chứng chỉ/công cụ khác được quy định trong Nghị định (Presidential Decree) có tính chất tương tự hay liên quan đến các công cụ liệt kê từ khoản 1 đến khoản 8 Điều này. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Việt Nam, trước năm 1998, chưa có khái niệm "chứng khoán" mà chỉ có các khái niệm về "cổ phiếu" và "trái phiếu". Các khái niệm này ra đời năm 1993 cùng với sự ra đời của Luật Công ty cho phép doanh nghiệp được phép phát hành cổ phiếu và trái phiếu để huy động vốn. Nhằm khuyến khích việc huy động các nguồn vốn trung và dài hạn trong nước và nước ngoài, ngày 11/7/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK.
Tại văn bản này, khái niệm "chứng khoán" lần đầu tiên được xuất hiện và được định nghĩa "là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán bao gồm: cổ phiếu; trái phiếu; chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác". Chứng khoán, theo định nghĩa tại Luật Chứng khoán Việt Nam năm 2006, là: Bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại: (1) cổ phiếu; (2) trái phiếu; (3) chứng chỉ quỹ; (4) quyền mua cổ phần; (5) chứng quyền; (6) quyền chọn mua, quyền chọn bán; (7) hợp đồng tương lai; (8) nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán [20, khoản 1 Điều 6].
Luật Chứng khoán Việt Nam năm 2006 đưa ra định nghĩa về 7 loại chứng khoán trong số 8 loại chứng khoán nêu trên, cụ thể như sau: - Cổ phiếu: Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành (khoản 2 Điều 6). Cổ phiếu được phát hành khi công ty cổ phần huy động vốn để thành lập công ty hoặc trong khi công ty cổ phần huy động thêm vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Số vốn đó được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người sở hữu cổ phiếu gọi là cổ đông.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tr¸i phiÕu: Ngoài cổ phiếu, trái phiếu có thể được phát hành để vay vốn phục vụ cho việc mở rộng, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc cho nhu cầu chi tiêu của Chính phủ. Trái phiếu có thể do công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần phát hành. Người nắm giữ trái phiếu là chủ nợ của tổ chức phát hành, được gọi là trái chủ và không có quyền sở hữu công ty như những cổ đông. Trái phiếu lµ lo¹i chøng kho¸n x¸c nhËn quyÒn vµ lîi Ých hîp ph¸p cña ng-êi së h÷u ®èi víi mét phÇn vèn nî cña tæ chøc ph¸t hµnh (kho¶n 3 §iÒu 6).
- Chøng chØ quü ®Çu t-: lµ lo¹i chøng kho¸n x¸c nhËn quyÒn së h÷u cña nhµ ®Çu t- ®èi víi mét phÇn vèn gãp cña Quü ®¹i chóng (kho¶n 4 §iÒu 6). - QuyÒn mua cæ phÇn: lµ lo¹i chøng kho¸n do c«ng ty cæ phÇn ph¸t hµnh kìm theo ®ît ph¸t hµnh cæ phiÕu bæ sung, nh»m ®¶m b¶o cho cæ ®«ng hiÖn h÷u quyÒn mua cæ phiÕu míi theo nh÷ng ®iÒu kiÖn ®· ®-îc x¸c ®Þnh (kho¶n 5 §iÒu 6). - Chøng quyÒn: lµ chøng kho¸n ®-îc ph¸t hµnh ph¸t hµnh cïng víi viÖc ph¸t hµnh tr¸i phiÕu hoÆc cæ phiÕu -u ®·i, cho phÐp ng-êi së h÷u chøng kho¸n ®-îc quyÒn mua mét khèi l-îng cæ phiÕu phæ th«ng nhÊt ®Þnh theo møc gi¸ ®· ®-îc x¸c ®Þnh tr-íc trong thêi kú nhÊt ®Þnh (kho¶n 6 §iÒu 6). - QuyÒn chän mua, quyÒn chän b¸n: lµ quyÒn ®-îc ghi trong hîp ®ång cho phÐp ng-êi mua lùa chän quyÒn mua hoÆc quyÒn b¸n mét sè l-îng chøng kho¸n ®-îc x¸c ®Þnh tr-íc trong kho¶ng thêi gian nhÊt ®Þnh víi møc gi¸ ®-îc x¸c ®Þnh tr-íc (kho¶n 7 §iÒu 6).
- Hîp ®ång t-¬ng lai: lµ cam kÕt mua hoÆc b¸n c¸c lo¹i chøng kho¸n, nhãm chøng kho¸n hoÆc chØ sè chøng kho¸n nhÊt ®Þnh víi mét sè l-îng vµ møc gi¸ nhÊt ®Þnh vµo ngµy x¸c ®Þnh tr-íc trong t-¬ng lai (kho¶n 8 §iÒu 6). Mặc dù mỗi nước đều đưa ra các định nghĩa khác nhau về chứng khoán, tùy thuộc vào trình độ phát triển của thị trường cũng như năng lực quản lý của mỗi nước nhưng về bản chất chứng khoán là các loại giấy tờ có 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giá hoặc là bằng chứng xác nhận quyền lợi ích hợp của người nắm giữ đối với một loại tài sản nhất định mà để trở thành chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện sau: (1) Là bằng chứng xác nhận quyền sở hữu đối với tài sản đó; (2) Có khả năng giao dịch và (3) Được pháp luật thừa nhận. Chứng khoán bao gồm 5 nhóm chính là cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, các công cụ chuyển đổi và các công cụ phái sinh. Căn cứ vào tính chất các chứng khoán được giao dịch, TTCK có thể được chia thành thị trường cổ phiếu, trái phiếu và thị trường các công cụ phái sinh.
- Thị trường cổ phiếu là thị trường nơi các cổ phiếu được phát hành và giao dịch. Thị trường cổ phiếu gồm có thị trường cổ phiếu sơ cấp và thị trường cổ phiếu thứ cấp. - Thị trường trái phiếu là thị trường nơi các trái phiếu được phát hành và giao dịch, thị trường trái phiếu cũng gồm có thị trường trái phiếu sơ cấp và thị trường trái phiếu thứ cấp. - Thị trường các công cụ phái sinh bao gồm thị trường các hợp đồng tương lai, chứng quyền, các quyền chọn mua, chọn bán… Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn, TTCK được chia thành hai thị trường: thị trường phát hành (thị trường sơ cấp) và thị trường giao dịch (thị trường thứ cấp).
- Thị trường chứng khoán sơ cấp là nơi các chứng khoán lần đầu tiên được phát hành. Việc phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp nhằm huy động vốn cho tổ chức phát hành, qua thị trường này những nguồn vốn nhàn rỗi trong công chúng và các tổ chức kinh tế xã hội có thể chuyển thành vốn đầu tư dài hạn cho tổ chức phát hành chứng khoán. - Thị trường chứng khoán thứ cấp là nơi mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp vì vậy còn gọi là thị trường giao dịch. Việc phát hành chứng khoán đem lại cho chính phủ và các công ty 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những nguồn vốn lớn, nhưng sẽ không thể tiếp tục phát hành ngày càng nhiều loại chứng khoán nếu việc huy động vốn chỉ dừng lại ở việc sở hữu chứng khoán.
Nếu những người nắm giữ chứng khoán có thể dễ dàng chuyển nhượng chứng khoán để thu hồi vốn bất kỳ khi nào họ muốn thì họ sẵn sàng tiếp tục mua chứng khoán mỗi khi có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để đầu tư. Khi chứng khoán đã có đủ hai công dụng là tính sinh lãi và tính dễ chuyển nhượng - tức là tính thanh khoản - thì mới thực sự trở thành hàng hóa. Vì vậy xuất hiện nhu cầu cần có cơ chế mua bán chứng khoán trên thị trường, cơ chế này là thị trường mua bán lại các chứng khoán đã phát hành - thị trường thứ cấp [27, tr. Giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ tương tác gắn bó chặt chẽ với nhau.
Nếu không có thị trường sơ cấp thì không có hàng hóa để lưu thông trên thị trường thứ cấp. Có thị trường sơ cấp nhưng chưa có thị trường thứ cấp thì cũng chưa có TTCK. TTCK chỉ ra đời sau khi đã có thị trường thứ cấp, nếu không có sự tồn tại của thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp cũng khó có thể phát triển và hoạt động có hiệu quả. Thị trường sơ cấp tạo ra hàng hóa cho thị trường thứ cấp; thị trường thứ cấp phát triển, có tính thanh khoản cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn ở thị trường sơ cấp và định giá chứng khoán theo cơ chế thị trường.
Xuất phát từ bản chất và các đặc điểm của chứng khoán và TTCK, có thể rút ra định nghĩa về chứng khoán và TTCK như sau: Chứng khoán là các loại giấy tờ có giá hoặc bằng chứng xác nhận quyền lợi ích hợp của người nắm giữ đối với một loại tài sản nhất định và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận nó là chứng khoán, cho phép giao dịch trên thị trường chứng khoán. Còn TTCK là nơi huy động và phân phối các nguồn vốn cho các doanh nghiệp, các ngành, các khu vực của nền kinh tế quốc dân, là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán chứng khoán hoặc là bất cứ một hình thức nào tập hợp những người mua và bán để giao dịch chứng khoán theo các nguyên tắc của thị trường nhằm mục đích kiếm lời. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm về chào bán chứng khoán ra công chúng Khái niệm về chào bán chứng khoán ra công chúng là vấn đề vô cùng quan trọng, nó xác định phạm vi quản lý của nhà nước, xác định ranh giới giữa một bên là được coi là chào bán chứng khoán ra công chúng và một bên được coi là chào bán chứng khoán riêng lẻ.