Tổng quan luận án

Luận án "Pháp luật xuất bản ở Việt Nam, quá trình thực hiện và đổi mới trong điều kiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Vũ Mạnh Chu dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Hoàng Văn Hảo, bảo vệ năm 1996 tại Hà Nội, thuộc chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền (Mã số: 5.01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Xuất bản giữ vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, chính trị và xã hội. Các quan hệ xã hội trong xuất bản đan xen phức tạp giữa văn hóa - tư tưởng với kinh tế, giữa tư duy sáng tạo và sản xuất vật chất xuyên suốt quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng xuất bản phẩm.

Khi chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường, ngành xuất bản xuất hiện những chuyển biến tích cực nhưng đồng thời chịu tác động từ mặt trái của cơ chế này. Khuynh hướng thương mại hóa xuất hiện làm thị trường xuất bản có thời điểm phát triển không lành mạnh. Bên cạnh đó, bối cảnh mở cửa đặt ra yêu cầu đấu tranh chống chiến lược "diễn biến hòa bình", ngăn ngừa việc lợi dụng xuất bản để nhập khẩu các trào lưu chính trị, văn hóa phương hại đến an ninh và trật tự xã hội.

Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quản lý, hệ thống pháp luật về xuất bản tại thời điểm nghiên cứu vẫn bộc lộ nhược điểm: thiếu tính đồng bộ, chưa nhất quán và chưa đáp ứng kịp yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền theo định hướng của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Khoảng trống nghiên cứu được chỉ rõ: trước thời điểm luận án, hầu hết các công trình nghiên cứu về xuất bản chỉ tiếp cận dưới góc độ nghiệp vụ, quản lý báo chí hoặc kinh tế; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống hoạt động quản lý nhà nước về xuất bản dưới góc độ lý luận khoa học pháp lý.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích và lý giải các đặc trưng, vai trò cùng nội dung quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động xuất bản trong cơ chế thị trường; đánh giá thực trạng pháp luật xuất bản Việt Nam; đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp nhằm đổi mới, hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước về xuất bản.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Trình bày hệ thống nhận thức chung về xuất bản với tính cách là quan hệ xã hội đặc thù chịu sự điều chỉnh của pháp luật; rút ra các đặc trưng cơ bản và vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước về xuất bản.
    2. Phân tích quá trình hình thành và đánh giá thực trạng pháp luật trong quản lý nhà nước về xuất bản ở Việt Nam từ năm 1945 đến thời điểm nghiên cứu.
    3. Xác định các yêu cầu lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải đổi mới; từ đó xây dựng hệ thống quan điểm, phương hướng và giải pháp đổi mới, hoàn thiện pháp luật xuất bản trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của pháp luật với tính cách là phương tiện quan trọng hàng đầu trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực xuất bản.
  • Phạm vi nội dung: Bao quát cả ba lĩnh vực cấu thành của ngành gồm: xuất bản, in và phát hành; trong đó khâu xuất bản (trọng tâm là xuất bản sách) là đối tượng nghiên cứu then chốt.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo cứu quá trình phát triển của pháp luật xuất bản Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1996.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trước khi luận án được triển khai, các tài liệu nghiên cứu về quản lý xuất bản tại Việt Nam rất hạn chế, đặc biệt là các công trình chuyên sâu về quản lý nhà nước bằng pháp luật. Tác giả đã tổng thuật các công trình liên quan trực tiếp:

  • Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: "Đổi mới phương thức xuất bản sách trong điều kiện kinh tế thị trường" do Phân viện Báo chí và Tuyên truyền (thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) chủ trì.
  • Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: "Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất bản sách ở nước ta hiện nay" do Phân viện Báo chí và Tuyên truyền chủ trì.
  • Luận án Phó Tiến sĩ của Đường Vinh Sường: "Đổi mới quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các nhà xuất bản trong bước chuyển sang cơ chế thị trường", tiếp cận dưới góc độ quản lý xuất bản.
  • Luận án Phó Tiến sĩ của Khuất Duy Hải: "Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức, quản lý ở các nhà xuất bản nước ta hiện nay", bảo vệ trong chuyên ngành Kinh tế, quản lý và kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân.

Các công trình trên chủ yếu tiếp cận vấn đề xuất bản từ khía cạnh tổ chức nghiệp vụ, tuyên truyền hoặc quản lý kinh tế thuần túy. Luận án của Vũ Mạnh Chu là công trình đầu tiên trong ngành xuất bản và lĩnh vực văn hóa - thông tin tiếp cận toàn diện từ góc độ Khoa học pháp lý (chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền), giải quyết khoảng trống về cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý của việc quản lý ngành xuất bản bằng pháp luật.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án vận dụng nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và Pháp luật, học thuyết về mối quan hệ biện chứng giữa hạ tầng cơ sở và kiến trúc thượng tầng; các quan điểm, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội VII và Đại hội VIII về xây dựng Nhà nước pháp quyền, quản lý xã hội bằng pháp luật và phát triển nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Các khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa trong luận án gồm:

  • Xuất bản theo nghĩa rộng: Hoạt động bao gồm cả ba lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm; là quá trình tổ chức các nguồn lực xã hội trong việc sáng tạo, in nhân bản và phổ biến tác phẩm đến công chúng nhằm đạt hiệu quả kinh tế, chính trị và xã hội.
  • Xuất bản theo nghĩa hẹp: Quá trình tổ chức việc sáng tạo, tác động vào quá trình sáng tác của tác giả để hình thành bản thảo, xử lý và hoàn chỉnh bản mẫu đưa in.
  • Hàng hóa xuất bản phẩm: Sản phẩm vật chất mang nội dung tinh thần, chịu sự chi phối đồng thời của quy luật phát triển văn hóa tư tưởng và quy luật kinh tế thị trường.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật và tổng hợp lý luận.
  • Phương pháp lịch sử - cụ thể: Khảo cứu sự hình thành và thay đổi của các văn bản pháp luật xuất bản qua từng thời kỳ cách mạng từ 1945.
  • Phương pháp so sánh pháp lý: So sánh các quy định pháp luật xuất bản của Việt Nam với các chế định pháp luật quốc tế (như Công ước Berne 1886) và pháp luật một số nước (Nhật Bản, Thụy Điển, Pháp, Anh, Đức, Mỹ, Tunisia).
  • Phương pháp khảo sát thực tiễn: Thu thập ý kiến thực tế từ các nhà quản lý, các biên tập viên và các cơ sở xuất bản, in, phát hành trên toàn quốc.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn kiện Đại hội Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước từ năm 1945 đến 1996.
  • Số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới (1990) về chỉ tiêu kinh tế - xã hội của Việt Nam.
  • Số liệu thống kê của ngành xuất bản và ngành giáo dục - đào tạo Việt Nam các năm 1994, 1995.
  • Các tài liệu thư tịch cổ, sử liệu về in ấn và xuất bản tại Việt Nam và thế giới.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I – Cơ sở lý luận cơ bản của quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản

Chương I phân tích nguồn gốc, bản chất, vị trí, vai trò của xuất bản và xác lập các căn cứ lý luận của việc quản lý xuất bản bằng pháp luật.

1. Nhận thức chung và đặc điểm của xuất bản

Lịch sử xuất bản thế giới ghi nhận từ các hình thức sơ khai (khắc chữ trên đá, vỏ cây, đất nung, da thú) đến việc phát minh ra giấy và nghề in bản khắc gỗ tại Trung Quốc (với cuốn Kinh Kim Cương do Vương Giới in năm 868). Đến thế kỷ XV (1436–1444), Johannes Gutenberg (Đức) phát minh ra chữ rời bằng hợp kim và in cuốn Phúc Âm 42 dòng (1452–1455), đánh dấu bước chuyển biến lớn của ngành in. Tại Việt Nam, hoạt động in ấn, xuất bản xuất hiện từ thời cổ trung đại với các trung tâm in kinh Phật từ thế kỷ I–III, phát triển rực rỡ thời Lý - Trần và Lê (tiêu biểu như các bộ Quốc triều thống chế, Hình luật thư, Luật Hồng Đức).

Luận án khẳng định bốn vai trò xã hội cơ bản của xuất bản:

  1. "Bà đỡ" của các tác phẩm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học công bố dưới hình thức xuất bản phẩm.
  2. Phương tiện phản ánh tinh thần của nhân loại và mỗi quốc gia, bảo tồn và lưu truyền các giá trị văn hóa.
  3. Công cụ nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
  4. Vũ khí sắc bén trong công tác tư tưởng và đấu tranh giai cấp.
Tiêu chí Nội dung đặc điểm Hệ quả pháp lý
Tính chất kép Vừa là hoạt động văn hóa - tư tưởng, vừa là hoạt động sản xuất kinh doanh vật chất (mã ngành 0803). Pháp luật phải kết hợp điều chỉnh mục tiêu tư tưởng với quy luật kinh tế, chống thương mại hóa.
Quy trình sản xuất Kết quả của lao động tư duy sáng tạo đặc thù; sản phẩm đầu ra ở khâu biên tập là sản phẩm đơn chiếc. Quy định pháp luật phải bảo hộ tự do sáng tạo, chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh biên tập viên.
Thuộc tính hàng hóa Là loại hàng hóa đặc biệt; giá trị nằm ở nội dung tư tưởng; giá trị sử dụng không mất đi mà nhân lên sau tiêu dùng. Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng về mặt tư tưởng, thẩm mỹ; quy định chế độ lưu chiểu, kiểm tra nội dung.

2. Hiệu quả và đặc trưng của quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản

Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với xuất bản hướng đến hai nhóm hiệu quả:

  • Hiệu quả chính trị: Đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững ổn định chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế.
  • Hiệu quả kinh tế: Tạo môi trường ổn định để các doanh nghiệp ngành xuất bản tự chủ sản xuất kinh doanh, tái sản xuất và tạo tích lũy kinh tế.

Ba đặc trưng cơ bản của quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản gồm:

  1. Quản lý hoạt động tư duy sáng tạo bằng pháp luật, bảo đảm tự do sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật, loại bỏ sự can thiệp duy ý chí của cá nhân ("ông quan văn nghệ"), lấy pháp luật làm thước đo phán xét sai phạm.
  2. Bảo tồn, phát triển nền văn hóa dân tộc tiên tiến, đậm đà bản sắc, tiếp thu tinh hoa khoa học - công nghệ nhân loại; thực hiện bảo hộ quyền tác giả theo chuẩn mực chung (Công ước Berne).
  3. Quản lý đồng thời lĩnh vực văn hóa - tư tưởng và hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường.

3. Vai trò của pháp luật và nội dung điều chỉnh

Pháp luật giữ vai trò là phương tiện thiết lập môi trường tự do sáng tạo, bảo vệ lợi ích hợp pháp của tác giả, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu quả hoạt động và bảo vệ người tiêu dùng xuất bản phẩm.

Về nội dung điều chỉnh, luận án xác định các nội dung chiến lược cần pháp luật thể chế hóa:

  • Đa dạng hóa và đa năng hóa các loại hình xuất bản phẩm (sách, bản đồ, tranh ảnh, băng đĩa âm thanh, đĩa hình thay sách hoặc kèm sách).
  • Điều chỉnh cơ cấu đề tài: Nâng tỷ lệ xuất bản các đề tài nâng cao dân trí, khoa học kỹ thuật phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa lên từ 30% đến 50%; nâng mức hưởng thụ sách bình quân từ 2,275 bản/người (1995) lên 3 bản/người (năm 2000) và trên 5 bản/người (năm 2010).
  • Định hướng cơ cấu sở hữu: Lĩnh vực xuất bản duy trì sở hữu nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội (không tư nhân hóa); lĩnh vực in và phát hành mở rộng cho nhiều thành phần kinh tế tham gia có điều kiện.

Chương II – Thực trạng pháp luật trong quản lý nhà nước về xuất bản ở Việt Nam và những yêu cầu đổi mới trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Chương II tập trung khảo cứu quá trình vận động của hệ thống văn bản pháp luật xuất bản từ năm 1945 qua các giai đoạn lịch sử:

  • Giai đoạn 1945–1954: Hệ thống văn bản sơ khai thời kỳ kháng chiến kiến quốc, tập trung phục vụ nhiệm vụ độc lập dân tộc.
  • Giai đoạn 1955–1985: Thời kỳ quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp; xuất bản phẩm được coi là sản phẩm phi thương mại, phân phối theo chỉ tiêu nhà nước.
  • Giai đoạn từ 1986 đến 1996: Thời kỳ chuyển đổi sang cơ chế thị trường; Luật Xuất bản năm 1993 ra đời tạo khung pháp lý bước đầu cho hoạt động xuất bản tự chủ.

Luận án đánh giá những kết quả đạt được của pháp luật xuất bản (tạo hành lang cho thị trường sách phát triển phong phú, nâng cao chất lượng in ấn, mở rộng hợp tác), đồng thời chỉ rõ những điểm nghẽn:

  • Hệ thống quy phạm còn thiếu đồng bộ, có sự chồng chéo giữa cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý nhà nước.
  • Cơ chế thanh tra, kiểm tra và chế tài xử lý vi phạm hành chính, kinh tế, hình sự trong lĩnh vực xuất bản chưa đủ sức răn đe đối với tình trạng in lậu, xâm phạm bản quyền và thương mại hóa tiêu cực.
  • Đặt ra các yêu cầu cấp bách phải đổi mới pháp luật xuất bản cả về mặt nhận thức lý luận (xác định rõ địa vị pháp lý của nhà xuất bản trong kinh tế thị trường) và thực tiễn (đồng bộ hóa hệ thống văn bản dưới luật).

Chương III – Đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước về xuất bản ở Việt Nam hiện nay – Phương hướng và giải pháp

Chương III đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược nhằm hoàn thiện thể chế pháp luật xuất bản.

1. Hệ thống quan điểm chỉ đạo

  • Thể chế hóa đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng về văn hóa, tư tưởng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp luật đi đôi với phát huy quyền tự do dân chủ, tự do sáng tạo của công dân và tổ chức.
  • Kết hợp chặt chẽ việc quản lý nội dung tư tưởng với việc tôn trọng các quy luật kinh tế thị trường trong hoạt động xuất bản, in và phát hành.

2. Phương hướng và giải pháp cơ bản

  • Hoàn thiện khung pháp lý về tổ chức và hoạt động: Sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản 1993 và ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn; quy định rõ tiêu chuẩn thành lập nhà xuất bản, tiêu chuẩn biên tập viên, quyền hạn và trách nhiệm của Giám đốc, Tổng biên tập.
  • Phân định cơ chế quản lý theo từng lĩnh vực:
    • Lĩnh vực xuất bản: Giữ vững nguyên tắc Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội nắm độc quyền thành lập nhà xuất bản; từng bước cho phép liên kết, thu hút đầu tư hợp tác đối với các mảng sách khoa học kỹ thuật thuần túy.
    • Lĩnh vực in: Đa dạng hóa hình thức sở hữu; thực hiện cổ phần hóa từng phần ở các cơ sở in ấn thương mại; cấp phép cho kinh tế tư nhân tham gia in ấn bao bì, nhãn mác, in lưới, in flexo.
    • Lĩnh vực phát hành: Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia lưu thông xuất bản phẩm lành mạnh; xóa bỏ tình trạng ngăn sông cấm chợ; phát triển hệ thống phát hành sách đến vùng sâu, vùng xa.
  • Bảo hộ quyền tác giả và xử lý vi phạm: Thiết lập hành lang pháp lý bảo hộ quyền tác giả tương thích với thông lệ quốc tế (chuẩn bị lộ trình tham gia Công ước Berne); tăng cường thẩm quyền và phương tiện cho lực lượng thanh tra chuyên ngành văn hóa - thông tin; áp dụng các chế tài nghiêm khắc đối với hành vi xuất bản không phép, in lậu và phát hành tài liệu có nội dung độc hại.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt lý luận:

    • Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên dưới góc độ Lý luận Nhà nước và Pháp quyền về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản tại Việt Nam.
    • Xây dựng hệ thống khái niệm, luận giải khoa học về ba đặc trưng bản chất của xuất bản (vừa là hoạt động tư tưởng vừa là kinh tế; quy trình sản xuất đơn chiếc dựa trên tư duy; hàng hóa đặc biệt).
    • Phân tích sâu sắc vai trò của pháp luật như một phương tiện tạo lập môi trường tự do sáng tạo, bảo đảm nguyên tắc không kiểm duyệt tác phẩm trước khi in của Hiến pháp, đồng thời xác lập cơ chế bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa.
  2. Về mặt thực tiễn:

    • Khái quát và đánh giá có hệ thống thực trạng áp dụng pháp luật xuất bản từ năm 1945 đến năm 1996, chỉ rõ nguyên nhân của những tồn tại trong quản lý xuất bản khi bước vào kinh tế thị trường.
    • Đề xuất các căn cứ khoa học và nhóm giải pháp phân hóa mô hình quản lý theo ba khâu riêng biệt (xuất bản giữ độc quyền công; in và phát hành mở rộng đa thành phần sở hữu).
    • Đóng góp trực tiếp vào cơ sở dữ liệu lý luận phục vụ công tác sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản và hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý nhà nước về văn hóa - thông tin.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án được thực hiện vào năm 1996, trong bối cảnh Việt Nam chưa gia nhập Công ước Berne về bảo hộ quyền tác giả và internet/công nghệ số chưa phát triển tại Việt Nam; do đó các vấn đề về xâm phạm bản quyền xuyên biên giới và xuất bản điện tử chưa được phân tích đầy đủ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Hoàn thiện pháp luật bảo hộ quyền tác giả trong xuất bản khi Việt Nam hội nhập sâu vào các điều ước quốc tế đa phương.
    • Xây dựng khung pháp lý điều chỉnh các loại hình xuất bản kỹ thuật số, sách điện tử và dịch vụ phân phối xuất bản phẩm trên không gian mạng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị đối với:

  • Cơ quan xây dựng chính sách và quản lý nhà nước: Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông), Cục Xuất bản và các cơ quan quản lý văn hóa trong việc hoạch định chiến lược và hoàn thiện thể chế pháp luật ngành xuất bản.
  • Đơn vị hoạt động thực tiễn: Lãnh đạo các nhà xuất bản, cơ sở in, công ty phát hành sách trong việc chuẩn hóa quy trình xuất bản, ký kết hợp đồng bản quyền và bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
  • Giảng viên, học viên, nghiên cứu sinh: Phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy các môn học Lý luận Nhà nước và Pháp quyền, Luật Hành chính, Luật Sở hữu trí tuệ, Quản lý văn hóa tại các trường đại học và cơ sở đào tạo chuyên ngành luật, báo chí - truyền thông.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt khái niệm xuất bản theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như thế nào?
Theo nghĩa rộng, xuất bản là hoạt động bao gồm cả ba khâu: xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm nhằm tổ chức các nguồn lực xã hội sáng tạo, in nhân bản và phổ biến tác phẩm đến công chúng. Theo nghĩa hẹp, xuất bản là quá trình tổ chức sáng tác, tiếp nhận, biên tập, xử lý và hoàn chỉnh bản thảo thành bản mẫu đưa in.

2. Tại sao luận án khẳng định xuất bản phẩm là loại hàng hóa đặc biệt?
Xuất bản phẩm là hàng hóa đặc biệt vì giá trị thực sự của nó nằm ở nội dung tư tưởng, khoa học, nghệ thuật do lao động trí óc tạo ra chứ không chỉ nằm ở chi phí vật chất của giấy in hay mực in. Hơn nữa, giá trị sử dụng của xuất bản phẩm không bị tiêu hao hay mất đi sau khi tiêu dùng mà còn tích lũy, nhân lên trong nhận thức của người đọc và chuyển hóa thành lực lượng vật chất thúc đẩy xã hội.

3. Cơ chế tự do sáng tạo trong xuất bản được thể hiện qua chế định pháp lý nào?
Tư tưởng tự do ngôn luận, tự do sáng tạo của Hiến pháp được cụ thể hóa trong pháp luật xuất bản bằng chế độ không kiểm duyệt tác phẩm trước khi in. Nhà nước quản lý bằng tiêu chuẩn pháp lý, trao quyền chủ động cho tác giả và nhà xuất bản, đồng thời quy định rõ trách nhiệm pháp lý khi vi phạm các điều cấm của pháp luật.

4. Luận án đề xuất cơ cấu sở hữu cho ba khâu xuất bản, in và phát hành ra sao?
Luận án đề xuất: Khâu xuất bản thuộc độc quyền của các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội (không tư nhân hóa); khâu in cho phép đa dạng hóa thành phần kinh tế, cổ phần hóa một số nhà máy in và cho phép tư nhân in phụ trợ; khâu phát hành mở rộng cho mọi thành phần kinh tế tham gia lưu thông sách.

5. Mục tiêu nâng cao mức hưởng thụ sách của người dân được luận án nêu ra là bao nhiêu?
Luận án chỉ ra định hướng nâng chỉ số bình quân hưởng thụ sách đầu người từ mức 2,275 bản sách/người năm 1995 lên mức 3 bản sách/người vào năm 2000 và đạt trên 5 bản sách/người vào năm 2010.


Kết luận

Luận án của Vũ Mạnh Chu đã giải quyết một cách khoa học và hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động xuất bản tại Việt Nam trong giai đoạn đầu chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Tác phẩm đã phân tích rõ tính chất kép của xuất bản (vừa là hoạt động tư tưởng vừa là sản xuất kinh doanh), làm sáng tỏ vai trò điều chỉnh của pháp luật đối với tự do sáng tạo và kiểm soát thương mại hóa. Những luận điểm, khảo cứu lịch sử và hệ thống giải pháp phân định mô hình sở hữu trong luận án cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật xuất bản Việt Nam.