Chương 1: Khái quát về ATVSLĐ, pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài về ATVSLĐ. Chương 2: Pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ. Chương 3:Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ ATVSLĐ, PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT NƢỚC NGOÀI VỀ ATVSLĐ 1.
Khái quát về ATVSLĐ 1. TNLĐ và BNN - các tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của thế giới Theo ước tính của Tổ chức lao động quốc tế (sau đây viết tắt là ILO) hàng năm có khoảng 337 triệu vụ Tai nạn lao động xảy ra trên thế giới và 2,3 triệu người chết do các bệnh liên quan đến lao động [88]. Thiệt hại do TNLĐ, BNN ước tính khoảng 4% GDP của toàn thế giới. Ở một số nước có thu nhập cao, khoảng 40% số người nghỉ hưu trước tuổi là bị thương tật do lao động.
Tính trung bình số thời gian bị rút ngắn này khoảng 5 năm, tương đương 14% độ dài thời gian có khả năng làm việc của lực lượng lao động. Tính trung bình 5% lực lượng lao động nghỉ việc do ảnh hưởng sức khoẻ trong lao động, 1/3 số người thất nghiệp do bị suy giảm khả năng lao động, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tái sản xuất sức lao động của xã hội loài người. Các nghiên cứu tình hình TNLĐ hàng năm trên thế giới cho thấy ở các quốc gia đang phát triển, tần suất TNLĐ chết người là 30 - 43 người/100. Các số liệu thống kê tại Cộng đồng Châu Âu cho thấy, trong số 115 triệu NLĐ của Cộng đồng Châu Âu đã có hơn 10 triệu người bị TNLĐ hoặc BNN hàng năm.
Số người chết vì TNLĐ là hơn 8000 người/ năm. Thiệt hại kinh tế khoảng 26 tỉ euro/năm. Ở Đức, điều kiện lao động (sau đây viết tắt là ĐKLĐ) xấu gây thiệt hại là 52 tỉ đê mác/năm. Ở Anh, chi phí cho người bị tai nạn bằng 4 - 8% tổng lợi nhuận của các công ty thương mại và công nghiệp của Anh.
Tại Hà Lan, chi phí cho TNLĐ, BNN bằng khoảng 4% GDP. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tại Mỹ, mỗi ngày có khoảng 9.000 người bị thương tật do TNLĐ và 153 người chết do TNLĐ, BNN thiệt hại kinh tế hàng năm do tai nan lao động xảy ra trong công nghiệp là 190 tỉ đô la Mỹ [13]. Tại Châu Á, nhiều nước với sự năng động việc tập trung mọi nỗ lực cho phát triển kinh tế bắt đầu từ thập kỉ sáu mươi của thế kỉ 20 đã đem đến cho khu vực này một sự khởi sắc mới về phát triển kinh tế, xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống. Nhiều công nghệ, kĩ thuật mới đã được đưa vào ứng dụng đã giải phóng sức lao động con người, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Tuy nhiên do quá tập trung cho phát triển kinh tế và chưa coi trọng đến công tác ATVSLĐ nên số vụ TNLĐ, ốm đau, bệnh tật đã tăng nhanh. Tại hàng loạt nước công nghiệp phát triển như Hàn Quốc, Nhật bản. TNLĐ, BNN đã có thể coi như “đại dịch”. Báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (sau đây viết tắt là WHO) cho thấy, ĐKLĐ rủi ro, có hại đã góp phần gây ra sự hoành hành một số bệnh trên thế giới, cụ thể: 37% số người bị bệnh đau lưng, 16% số người bị tổn thương thính lực, 11% số người bị bệnh hen xuyễn, 10% số người bị thương tật, 9% số người bị ung thư và 2% số người bị bệnh bạch cầu.
Ngoài ra, ĐKLĐ xấu cũng tác động không nhỏ đến cộng động xã hội, làm mỗi năm có thêm khoảng gần 310.000 người chết do bị những tổn thương liên quan đến lao động và 146.000 người chết vì bị bệnh ung thư liên quan đến lao động [76]. Tuy nhiên, phần lớn TNLĐ và BNN đều có thể phòng ngừa được với các biện pháp thích hợp, việc ngăn ngừa và giảm thiểu TNLĐ là vấn đề tôn trọng con người và quyền cơ bản của con người thông qua chương trình làm việc bền vững, xây dựng và ban hành chính sách lấy con người làm trung tâm, chú trọng các chính sách xã hội và phát triển bền vững. Yêu cầu đặt ra về xây dựng Hệ thống quản lý ATVSLĐ Một trong những xứ mệnh của Tổ chức lao động quốc tế ILO là bảo vệ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NLĐ khỏi những ốm đau, bệnh tật, tổn thương có liên quan đến công việc. Bệnh tật và thương vong không có nghĩa là do nghề nghiệp cũng như không thể lấy đói nghèo để biện minh cho việc xem nhẹ vấn đề an toàn và sức khỏe của NLĐ.
Mục tiêu hàng đầu của tổ chức ILO là tạo thêm cơ hội cho NLĐ dù là nam hay nữ có được công việc tốt và hữu ích trong điều kiện bình đẳng, bác ái, và an toàn, nói ngắn gọn là “công việc tốt”. Theo ILO, công việc tốt là công việc an toàn, công việc an toàn cũng chính là nhân tố tích cực để tăng năng suất và phát triển kinh tế. Xuất phát từ mục đích trên, ILO đã ban hành “Hướng dẫn về hệ thống quản lý an toàn lao động” năm 2001, nhằm tạo một công cụ hỗ trợ thiết thực cho các tổ chức, các cơ quan có thẩm quyền cũng như các biện pháp để không ngừng hoàn thiện việc thực hiện công tác an toàn lao động (sau đây viết tắt là ATLĐ). Hệ thống quản lý ATLĐ mà tổ chức lao động quốc tế khuyến nghị chính là kết quả đút rút kinh nghiệm thực tế đa dạng ở nhiều nước, từ đó xây dựng thành một hệ thống khuyến nghị mang tính mục tiêu tác động tích cực trong việc giảm thiểu nguy cơ cũng như hợp lý hoá quá trình và tăng năng suất lao động, làm cho các khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế ngày càng được phổ biến rộng rãi và hình thành xu thế hội nhập của các nước đang phát triển.
Mục tiêu của hệ thống quản lý ATLĐ là góp phần bảo vệ NLĐ khỏi các nguy cơ rủi ro và dần tiến đến loại trừ mọi TNLĐ, BNN và giảm tỷ lệ tử vong liên quan đến quá trình lao động. Đồng thời khuyến nghị của ILO có giá trị tham khảo và sử dụng trực tiếp trong việc hình thành khung hệ thống quản lý ATLĐ cấp quốc gia. Bên cạnh đó còn giúp cho các cơ sở sản xuất chủ động tổ chức thực hiện việc tuân thủ các quy định và các tiêu chuẩn về ATLĐ đáp ứng những nhu cầu thực tế và phù hợp với tính chất hoạt động của đơn vị. Hướng dẫn của Tổ chức Lao động quốc tế đã nêu rõ quan điểm ATLĐ bao gồm việc tuân thủ các yêu cầu về ATLĐ theo đúng pháp luật và các quy 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định của quốc gia là trách nhiệm và nghĩa vụ của NSDLĐ, NLĐ cần được chỉ đạo và cam kết thực hiện các hoạt động ATLĐ và tạo điều kiện để thiết lập hệ thống ATLĐ tại cơ sở.
Hướng dẫn chỉ rõ khung quốc gia về hệ thống quản lý ATLĐ mà ILO khuyến nghị bao gồm 3 yếu tố chủ đạo: Chính sách quốc gia, hướng dẫn quản lý Nhà nước và hướng dẫn triển khai thực hiện. Trên cơ sở hướng dẫn về “Hệ thống quản lý ATLĐ” năm 2001 của ILO đã tạo tiền đề cho việc định hướng cũng như hoàn thiện hệ thống quản lý ATLĐ và là tiêu chí chính thức để đánh giá công tác này trong hoạt động sản xuất ở các nước. Hầu hết mô hình quản lý Nhà nước về ATLĐ ở các nước đều theo mô hình: Chính phủ giao trách nhiệm quản lý Nhà nước về an toàn cho các ngành: Lao động, y tế, công nghiệp, môi trường, giao thông vận tải.v… Một số nước tổ chức ngành kết hợp, ngành y tế kết hợp với khoa học công nghệ ở Trung Quốc, môi trường kết hợp với năng lượng ở Pháp. Hiện nay Việt Nam đang thúc đẩy và xây dựng Hệ thống quản lý ATVSLĐ của Việt Nam trên cơ sở hướng dẫn về “Hệ thống quản lý ATLĐ” như một công cụ thiết thực trong việc tăng cường ATVSLĐ, hướng dẫn này sẽ là nền tảng cơ sở cho các cấp, các ngành, các cơ quan tổ chức, các cơ sở sản xuất xây dựng kế hoạch hành động để có thể áp dụng trực tiếp ở cơ sở.
Hướng dẫn về Hệ thống quản lý ATVSLĐ là một công cụ quốc tế quan trọng trong việc phát triển Hệ thống quản lý ATVSLĐ tại Việt Nam. Hướng dẫn này đã có tác động tích cực trong việc nâng cao năng suất lao động, giảm thiểu nguy cơ và rủi ro trong sản xuất, được Chính phủ, NLĐ và người NSDLĐ trên thế giới công nhận. Hướng dẫn này sẽ tạo ra cơ sở phù hợp và mang tính linh hoạt trong việc xây dựng văn hoá an toàn bền vững trong các tổ chức, các doanh nghiệp và nơi làm việc. Tuy nhiên, khi xây dựng các hướng dẫn này Việt Nam cần đặc biệt lưu ý đến quy mô, cơ sở hạ tầng của cơ sở sản xuất và các yếu tố nguy hiểm cũng như nguy cơ và mức độ rủi ro có thể xảy ra trong quá trình sản xuất.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Pháp luật quốc tế về ATVSLĐ 1. Quan niệm về ATVSLĐ Cụm từ “occupational safety and health” có nhiều cách dịch khác nhau là “ATLĐ và sức khoẻ nghề nghiệp”, “ATLĐ, vệ sinh lao động và sức khoẻ nghề nghiệp”, “ATVSLĐ” theo cách hiểu chung nhất học viên dùng thuật ngữ “ATVSLĐ” (sau đấy viết tắt là ATVSLĐ). Trên phạm vi quốc tế vấn đề sức khoẻ, xét về mặt công việc, không chỉ là tình trạng không có bệnh tật, mà còn bao gồm cả các yếu tố thể chất và tinh thần có tác động đến sức khoẻ và có liên quan trực tiếp đến ATLĐ và vệ sinh lao động [67].
Từ năm 1950, Tổ chức Lao động quốc tế và Tổ chức Y tế Thế giới đã chia sẻ một định nghĩa chung về sức khỏe nghề nghiệp, định nghĩa này được thông qua bởi Ủy ban về sức khỏe nghề nghiệp tại phiên họp đầu tiên vào năm 1950 và được sửa đổi tại kỳ họp thứ mười hai trong năm 1995. Trong định nghĩa khuyến cáo, sức khỏe nghề nghiệp nên nhằm mục đích thúc đẩy và duy trì mức độ cao nhất về các mặt vật chất, bảo vệ NLĐ khỏi các rủi ro từ việc làm của họ do các yếu tố bất lợi cho sức khỏe, cần đặt và bảo đảm NLĐ làm việc trong môi trường nghề nghiệp phù hợp với khả năng sinh lý và tâm lý của NLĐ.