Luận văn: Pháp luật về thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn

Tổng hợp quy định pháp luật về thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng vốn. Hướng dẫn chi tiết đối tượng, cách tính và kê khai thuế chuẩn xác nhất.

Chuyên ngành

Luật Thương Mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2011

112
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh pháp luật thuế TNCN với thu nhập chuyển nhượng vốn

Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn là một cấu phần quan trọng trong hệ thống pháp luật thuế Việt Nam, chính thức được quy định trong Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007. Sự ra đời của quy định này đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc mở rộng cơ sở thu thuế, đảm bảo công bằng xã hội và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Về bản chất, thu nhập từ chuyển nhượng vốn được xác định là khoản lợi tức mà cá nhân nhận được từ việc chuyển giao quyền sở hữu vốn của mình trong các tổ chức kinh tế. Đây là khoản thu nhập không thường xuyên, chỉ phát sinh khi thỏa mãn các điều kiện nhất định như giá chuyển nhượng vốn lớn hơn giá mua và các chi phí liên quan. Việc đưa loại thu nhập này vào diện chịu thuế là cần thiết, không chỉ để điều tiết thu nhập của các cá nhân có lợi nhuận từ hoạt động đầu tư mà còn để kiểm soát và minh bạch hóa các dòng vốn trên thị trường. Cơ sở pháp lý chính điều chỉnh vấn đề này bao gồm Luật Thuế thu nhập cá nhân, Nghị định 65/2013/NĐ-CPThông tư 111/2013/TT-BTC (trong bối cảnh tài liệu gốc là Thông tư 84/2008/TT-BTC). Các văn bản này quy định rõ về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế TNCN, căn cứ tính thuế và phương pháp quản lý thuế đối với cả chuyển nhượng phần vốn gópchuyển nhượng cổ phần. Việc nắm vững các quy định nền tảng này là yêu cầu bắt buộc đối với cả người nộp thuế và cơ quan quản lý, nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp luật được thực hiện một cách chính xác và hiệu quả, tránh các sai sót không đáng có trong quá trình thực thi.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của thu nhập từ chuyển nhượng vốn

Thu nhập từ chuyển nhượng vốn được định nghĩa là khoản tiền lãi (chênh lệch) mà cá nhân nhận được từ việc chuyển nhượng phần vốn góp trong các công ty TNHH, công ty hợp danh, hợp đồng hợp tác kinh doanh; chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần; và các hình thức chuyển nhượng vốn khác. Đặc điểm nổi bật của loại thu nhập này là tính không thường xuyên, không phát sinh đều đặn theo chu kỳ như tiền lương, tiền công. Nó chỉ xuất hiện khi nhà đầu tư thực hiện giao dịch chuyển nhượng và có lợi nhuận. Một đặc điểm khác là thu nhập này chỉ phát sinh khi thỏa mãn hai điều kiện: giá bán phải lớn hơn giá mua cộng với các chi phí hợp lý và bên nhận chuyển nhượng phải hoàn tất nghĩa vụ thanh toán. Việc xác định rõ khái niệm và đặc điểm này giúp phân biệt với các loại thu nhập khác và là cơ sở để xây dựng phương pháp tính thuế phù hợp.

1.2. Cơ sở pháp lý và sự cần thiết của thuế TNCN chuyển nhượng vốn

Việc quy định thuế TNCN chuyển nhượng vốn là một yêu cầu tất yếu trong bối cảnh thị trường vốn ngày càng phát triển. Cơ sở pháp lý được xây dựng dựa trên nguyên tắc công bằng, theo đó mọi cá nhân có thu nhập phát sinh đều phải có nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách nhà nước. Luật Thuế thu nhập cá nhân đã chính thức đưa thu nhập này vào diện chịu thuế nhằm mục đích: một là, đảm bảo sự công bằng giữa các cá nhân có các nguồn thu nhập khác nhau; hai là, tăng nguồn thu ổn định cho ngân sách; ba là, góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế, định hướng các hoạt động đầu tư một cách lành mạnh. Sự cần thiết này còn thể hiện ở việc phù hợp với thông lệ quốc tế, khi hầu hết các quốc gia đều áp dụng thuế đối với lợi tức vốn (capital gains tax).

II. Vướng mắc pháp lý khi áp dụng thuế TNCN chuyển nhượng vốn

Mặc dù khung pháp lý đã được thiết lập, thực tiễn áp dụng các quy định về thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc pháp lý và thách thức. Một trong những khó khăn lớn nhất là việc xác định chính xác các yếu tố cấu thành thu nhập tính thuế, đặc biệt là giá chuyển nhượng vốn và giá mua. Trong nhiều giao dịch, đặc biệt là chuyển nhượng phần vốn góp trong các công ty chưa niêm yết, các bên có thể thỏa thuận giá trị trên hợp đồng thấp hơn giá trị thực tế để lách thuế, gây khó khăn cho công tác quản lý của cơ quan thuế. Thêm vào đó, việc phân biệt giữa “phần vốn góp” trong công ty cổ phần và “chứng khoán” đôi khi chưa có cơ sở pháp lý nhất quán, dẫn đến sự lúng túng trong việc áp dụng phương pháp tính thuế phù hợp. Các quy định về chi phí hợp lý được trừ cũng chưa thực sự chi tiết, tạo ra những tranh cãi trong quá trình quyết toán thuế TNCN. Những bất cập này không chỉ gây thất thu cho ngân sách nhà nước mà còn tạo ra môi trường pháp lý thiếu minh bạch, ảnh hưởng đến quyền lợi của người nộp thuế và sự công bằng trong thực thi chính sách thuế.

2.1. Bất cập trong việc xác định đối tượng chịu thuế TNCN

Một trong những vướng mắc pháp lý nổi cộm là sự thiếu rõ ràng trong việc định nghĩa “chuyển nhượng vốn”. Luật không đưa ra khái niệm cụ thể, dẫn đến khó khăn khi phân biệt hoạt động này với các giao dịch tương tự. Ví dụ, việc không quy định miễn thuế cho một số trường hợp chuyển nhượng vốn theo Luật Doanh nghiệp (như chuyển nhượng giữa các thành viên sáng lập trong thời gian hạn chế) gây ra sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản pháp luật. Hơn nữa, sự thiếu nhất quán trong việc phân biệt “phần vốn góp” và “chứng khoán” tại các công ty cổ phần chưa niêm yết cũng là một bất cập lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn cách tính thuế chuyển nhượng vốn.

2.2. Khó khăn khi xác định giá mua và giá chuyển nhượng vốn

Việc xác định giá chuyển nhượng vốn và giá mua là yếu tố cốt lõi để tính thu nhập chịu thuế TNCN, nhưng lại là khâu yếu nhất trong thực tiễn. Đối với vốn góp, giá trị thực tế thường khó kiểm chứng và phụ thuộc nhiều vào sự tự kê khai của các bên. Cơ quan thuế gặp nhiều thách thức trong việc ấn định lại giá khi nghi ngờ có hành vi gian lận. Đối với chứng khoán chưa niêm yết, việc xác định giá mua theo “sổ sách kế toán” như quy định tại Thông tư 84/2008/TT-BTC đôi khi không phản ánh đúng giá trị thị trường, có thể dẫn đến việc nhà đầu tư bị lỗ nhưng vẫn phải nộp thuế, gây ra sự bất hợp lý và không khuyến khích đầu tư.

III. Hướng dẫn xác định đối tượng nộp thuế TNCN chuyển nhượng vốn

Để áp dụng đúng pháp luật về thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn, việc xác định chính xác đối tượng nộp thuế là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất. Theo Luật Thuế thu nhập cá nhân, đối tượng nộp thuế được phân chia thành hai nhóm chính: cá nhân cư trúcá nhân không cư trú. Sự phân loại này có ý nghĩa quyết định đến phạm vi thu nhập chịu thuế và phương pháp tính thuế áp dụng. Mỗi nhóm đối tượng có những tiêu chí xác định riêng, dựa trên thời gian có mặt tại Việt Nam, nơi ở thường xuyên hoặc các yếu tố khác được quy định chi tiết trong các văn bản hướng dẫn. Việc xác định sai tình trạng cư trú có thể dẫn đến việc áp dụng sai thuế suất thuế TNCN và phương pháp tính thuế, gây ra các rủi ro pháp lý cho cả người nộp thuế và đơn vị khấu trừ. Do đó, việc hiểu rõ các tiêu chí để xác định một cá nhân là đối tượng cư trú hay không cư trú là nền tảng để tuân thủ đúng nghĩa vụ thuế đối với các khoản thu nhập từ chuyển nhượng vốn.

3.1. Nghĩa vụ thuế đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ vốn

Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện: có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam. Đối với nhóm đối tượng này, phạm vi nghĩa vụ thuế là không giới hạn. Họ phải kê khai và nộp thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn phát sinh cả trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam. Đây là nguyên tắc đánh thuế trên thu nhập toàn cầu. Việc xác định đúng tư cách cá nhân cư trú giúp đảm bảo không bỏ sót nguồn thu và thực hiện đúng các quy định về khấu trừ, kê khai theo pháp luật Việt Nam.

3.2. Quy định thuế TNCN cho cá nhân không cư trú chuyển nhượng vốn

Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng các điều kiện của cá nhân cư trú. Đối với họ, nghĩa vụ thuế TNCN chuyển nhượng vốn chỉ phát sinh đối với phần thu nhập có nguồn gốc tại Việt Nam. Pháp luật quy định một phương pháp tính thuế riêng, đơn giản hơn cho đối tượng này, thường là áp dụng một mức thuế suất cố định trên tổng doanh thu chuyển nhượng thay vì trên lợi nhuận ròng. Quy định này nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính và đảm bảo khả năng thu thuế hiệu quả từ các nhà đầu tư nước ngoài không thường xuyên hiện diện tại Việt Nam.

IV. Cách tính thuế TNCN từ chuyển nhượng vốn chính xác nhất

Việc nắm vững cách tính thuế chuyển nhượng vốn là yêu cầu cốt lõi để thực hiện đúng nghĩa vụ với ngân sách nhà nước. Pháp luật về thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn quy định các phương pháp tính thuế khác nhau tùy thuộc vào loại vốn được chuyển nhượng và tình trạng cư trú của người nộp thuế. Về cơ bản, căn cứ tính thuế bao gồm hai thành phần chính: thu nhập tính thuế và thuế suất thuế TNCN. Đối với chuyển nhượng phần vốn góp, thu nhập tính thuế thường được xác định bằng chênh lệch giữa giá bán và giá mua cộng các chi phí hợp lý. Trong khi đó, đối với chuyển nhượng cổ phần (chứng khoán), cá nhân có thể lựa chọn giữa hai phương pháp: nộp thuế 20% trên thu nhập ròng hoặc 0,1% trên tổng giá trị giao dịch. Việc lựa chọn phương pháp nào phụ thuộc vào khả năng chứng minh chi phí đầu vào và chiến lược đầu tư của mỗi cá nhân. Thời điểm tính thuế cũng là một yếu tố quan trọng, được xác định là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực hoặc khi hoàn tất thủ tục chuyển quyền sở hữu.

4.1. Phương pháp tính thuế chuyển nhượng phần vốn góp chi tiết

Đối với thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp, cách tính thuế chuyển nhượng vốn được áp dụng thống nhất. Thu nhập tính thuế được xác định theo công thức: Thu nhập tính thuế = Giá chuyển nhượng - Giá mua của phần vốn góp - Các chi phí hợp lý liên quan. Giá chuyển nhượng là giá ghi trên hợp đồng, trong khi giá mua được xác định dựa trên giá trị vốn tại thời điểm góp hoặc thời điểm mua lại. Các chi phí hợp lý bao gồm phí làm thủ tục pháp lý, lệ phí... Mức thuế suất thuế TNCN áp dụng cho loại thu nhập này là 20% trên thu nhập tính thuế. Cá nhân phải tự kê khai và nộp thuế theo từng lần phát sinh.

4.2. Công thức tính thuế TNCN chuyển nhượng cổ phần chứng khoán

Với chuyển nhượng cổ phần và chứng khoán, cá nhân có hai lựa chọn. Phương pháp 1: Nộp thuế theo thuế suất 20% trên chênh lệch (giá bán trừ giá mua và chi phí). Phương pháp này phù hợp với nhà đầu tư có thể chứng minh đầy đủ chứng từ và thực hiện quyết toán thuế TNCN cuối năm. Phương pháp 2: Nộp thuế theo thuế suất 0,1% trên tổng giá trị bán mỗi lần chuyển nhượng. Đây là phương pháp phổ biến vì tính đơn giản, không cần xác định lãi lỗ. Công ty chứng khoán sẽ thực hiện khấu trừ ngay tại nguồn. Việc lựa chọn phương pháp nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số thuế phải nộp của nhà đầu tư.

V. Thực tiễn áp dụng và quản lý thuế TNCN chuyển nhượng vốn

Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn cho thấy vai trò quan trọng của công tác quản lý thuế, bao gồm đăng ký, khấu trừ, kê khai và quyết toán. Quản lý thuế hiệu quả là chìa khóa để đảm bảo chính sách đi vào cuộc sống và chống thất thu ngân sách. Theo quy định, các tổ chức chi trả thu nhập như công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại, hoặc doanh nghiệp có vốn được chuyển nhượng đóng vai trò là "cánh tay nối dài" của cơ quan thuế thông qua cơ chế khấu trừ tại nguồn. Cá nhân có thu nhập phải thực hiện đăng ký mã số thuế để quản lý nghĩa vụ và hưởng các quyền lợi như hoàn thuế, giảm trừ. Quy trình khai thuế, nộp thuế và khai quyết toán thuế được quy định chi tiết, phân định rõ trách nhiệm của cá nhân và tổ chức khấu trừ. Tuy nhiên, trên thực tế, việc quản lý các giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp tự do vẫn là một thách thức lớn, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế và các cơ quan đăng ký kinh doanh.

5.1. Quy trình khai và quyết toán thuế TNCN chi tiết cho nhà đầu tư

Quy trình kê khai thuế phụ thuộc vào loại vốn chuyển nhượng. Đối với chuyển nhượng phần vốn góp, cá nhân phải nộp hồ sơ khai thuế theo từng lần phát sinh tại cơ quan thuế quản lý doanh nghiệp có vốn góp. Đối với chuyển nhượng cổ phần, nếu nộp theo thuế suất 0,1%, công ty chứng khoán sẽ khai và nộp thay. Nếu đăng ký nộp 20%, cá nhân phải tự thực hiện quyết toán thuế TNCN vào cuối năm để xác định số thuế cuối cùng phải nộp hoặc được hoàn. Việc tuân thủ đúng thời hạn và hồ sơ kê khai là nghĩa vụ bắt buộc để tránh các khoản phạt vi phạm hành chính về thuế.

5.2. Vai trò của tổ chức trong việc khấu trừ thuế TNCN tại nguồn

Khấu trừ thuế tại nguồn là phương pháp quản lý hiệu quả, đặc biệt đối với thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần. Các công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại nơi nhà đầu tư mở tài khoản có trách nhiệm tính, khấu trừ và nộp số thuế TNCN chuyển nhượng vốn vào ngân sách nhà nước trước khi chi trả tiền cho nhà đầu tư. Cơ chế này giúp giảm gánh nặng tuân thủ cho cá nhân, đồng thời đảm bảo nguồn thu được tập trung kịp thời, hạn chế tối đa tình trạng trốn, lậu thuế. Hiệu quả của công tác quản lý thuế phụ thuộc rất lớn vào sự tuân thủ và trách nhiệm của các tổ chức khấu trừ này.

VI. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế TNCN chuyển nhượng vốn

Để nâng cao hiệu quả và tính công bằng của chính sách thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn, việc hoàn thiện pháp luật thuế là một yêu cầu cấp thiết. Dựa trên những vướng mắc pháp lý và bất cập trong thực tiễn áp dụng, nhiều giải pháp cần được xem xét. Trước hết, cần có định nghĩa rõ ràng về “chuyển nhượng vốn” trong các văn bản pháp luật về thuế để tạo sự thống nhất. Các quy định về xác định giá mua, giá chuyển nhượng vốn cần được sửa đổi theo hướng tiếp cận gần hơn với giá thị trường và có cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả hơn để chống gian lận. Bên cạnh đó, mức thuế suất thuế TNCN cũng cần được nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh kinh tế và thông lệ quốc tế, nhằm khuyến khích đầu tư dài hạn thay vì đầu cơ lướt sóng. Cần xây dựng một hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch và khả thi, không chỉ giúp tăng cường quản lý nhà nước mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế, thúc đẩy thị trường vốn phát triển bền vững.

6.1. Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thuế về chuyển nhượng vốn

Một số giải pháp trọng tâm để hoàn thiện pháp luật thuế bao gồm: (1) Ban hành hướng dẫn chi tiết về cách xác định chi phí hợp lý được trừ, tránh việc giải thích tùy nghi. (2) Xây dựng cơ sở dữ liệu về giá giao dịch vốn góp để làm căn cứ tham chiếu cho cơ quan thuế. (3) Đồng bộ hóa quy định giữa Luật Thuế và Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán về các giao dịch vốn. (4) Cần có quy định cụ thể về việc phân biệt các loại hình vốn góp để áp dụng phương pháp tính thuế chính xác, đặc biệt là vốn trong công ty cổ phần chưa niêm yết. Những cải cách này sẽ góp phần tháo gỡ các vướng mắc pháp lý hiện nay.

6.2. Xu hướng điều chỉnh chính sách thuế TNCN trong tương lai

Trong tương lai, chính sách thuế TNCN chuyển nhượng vốn có thể sẽ được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn. Xu hướng chung trên thế giới là áp dụng mức thuế suất khác nhau dựa trên thời gian nắm giữ vốn, theo đó các khoản đầu tư dài hạn sẽ được hưởng mức thuế suất ưu đãi hơn. Điều này nhằm khuyến khích đầu tư bền vững và ổn định thị trường. Ngoài ra, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong kê khai và nộp thuế cũng là một xu hướng tất yếu để nâng cao tính tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế và hiệu quả quản lý của nhà nước.

04/10/2025
Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn luận văn thạc sĩ luật học

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có bố cục gồm hai chƣơng Chƣơng 1: Lý luận chung về thu nhập từ CNV và quy định của pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV. Chƣơng 2: Một số bất cập, hạn chế phát sinh khi áp dụng quy định của pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV và một số kiến nghị hoàn thiện. 5 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU NHẬP TỪ CHUYỂN NHƢỢNG VỐN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI THU NHẬP TỪ CHUYỂN NHƢỢNG VỐN 1. Những vấn đề lý luận chung về thu nhập từ chuyển nhƣợng vốn 1.

Khái niệm thu nhập từ chuyển nhƣợng vốn Khái niệm thu nhập từ CNV là một khái niệm cơ bản mà khóa luận cần phải làm sáng tỏ để giải quyết các yêu cầu đặt ra của luận văn. Tuy nhiên, khái niệm này chƣa đƣợc đề cập và xác định rõ ràng trong từ điển cũng nhƣ trong quy định của pháp luật. Tuy vậy, dƣới góc độ ngôn ngữ, khái niệm này có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: Thu nhập là “các khoản thu đƣợc trong một khoảng thời gian nhất định thƣờng 2 tính theo tháng, năm”. 3 Chuyển nhượng là “chuyển quyền sở hữu”.

Tuy nhiên, nếu hiểu chuyển nhƣợng là chuyển quyền sở hữu thì chƣa chính xác. Bởi vì, trong hoạt động tặng cho cũng bao hàm hành vi chuyển quyền sở hữu. Chính vì thế, để có khái niệm chính xác nên hiểu chuyển nhƣợng là chuyển quyền sở hữu thông qua hợp đồng chuyển nhƣợng và có đền bù. 4 Vốn là “tiền bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất, kinh doanh nhằm sinh lợi”.

Ở đây nên hiểu vốn với nghĩa rộng hơn là số tài sản bỏ ra lúc đầu dùng trong sản xuất kinh doanh nhằm sinh lợi, không nên hiểu chỉ bao gồm tiền. Nhƣ vậy, dƣới góc độ ngôn ngữ thu nhập từ CNV là các khoản thu đƣợc khi thực hiện việc chuyển quyền sở hữu đối với số tài sản bỏ ra lúc đầu dùng trong sản xuất, kinh doanh. Dƣới góc độ ngôn ngữ, thu nhập từ CNV đƣợc hiểu nhƣ vậy, còn pháp luật thuế TNCN quy định thế nào là thu nhập từ CNV? Luật thuế TNCN hiện hành không đƣa ra khái niệm mà chỉ sử dụng phƣơng pháp liệt kê để chỉ các thu nhập từ CNV, tuy 2 TS Chu Bích Thu, PGS.TS Nguyễn Ngọc Trâm, TS Nguyễn Thị Thanh Nga, TS Nguyễn Thúy Khanh,TS Phạm Hùng Việt (2002), Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học. 3 TS Chu Bích Thu, PGS.TS Nguyễn Ngọc Trâm, TS Nguyễn Thị Thanh Nga, TS Nguyễn Thúy Khanh,TS Phạm Hùng Việt, tlđd.

4 TS Chu Bích Thu, PGS.TS Nguyễn Ngọc Trâm, TS Nguyễn Thị Thanh Nga, TS Nguyễn Thúy Khanh,TS Phạm Hùng Việt, tlđd 6 nhiên trong Thông tƣ số 84/2008/TT-BTC hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN và Nghị định số 100/2008/ND-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế TNCN ( viết tắt TT 84) có qui định “thu nhập từ CNV là khoản tiền lãi nhận được từ việc CNV của cá nhân trong các trường hợp sau: thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp trong các công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty hợp danh, công ty cổ phần (CTCP), các hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp tác xã, tổ chức kinh tế, tổ chức khác; thu nhập từ chuyển nhượng CK bao gồm thu nhập từ việc chuyển nhượng cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và các loại CK khác theo quy định của Luật Chứng 5 khoán; thu nhập từ CNV dưới các hình thức khác”. Qua khái niệm về CNV dƣới góc độ ngôn ngữ và theo quy định của pháp luật có thể hiểu khái quát thu nhập từ CNV là khoản tiền lãi nhận đƣợc khi thực hiện hoạt động CNV bao gồm chuyển nhƣợng phần vốn góp tại các tổ chức, chuyển nhƣợng CK và chuyển nhƣợng vốn dƣới các hình thức khác. Đặc điểm của thu nhập từ chuyển nhƣợng vốn 1. Thu nhập từ chuyển nhƣợng vốn mang lại lợi ích cho chủ sở hữu thu nhập Trong đời sống xã hội, thu nhập do con ngƣời tạo ra rất đa dạng, nó có thể là thu nhập từ lao động, từ hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng có thể là thu nhập từ tài sản, từ nhận thừa kế, nhận quà tặng… nhƣng dù là thu nhập xuất phát từ nguồn gì thì đều có một đặc điểm chung là mang đến cho chủ thể sở hữu nó những lợi ích nhất định.

Lợi ích này đƣợc biểu hiện dƣới dạng giá trị hoặc quyền lợi vật chất. Nó có thể là một số tiền nhận đƣợc từ lao động (nhƣ tiền lƣơng, tiền công), từ hoạt động sản xuất kinh doanh, từ chuyển nhƣợng tài sản cũng có thể là quyền đƣợc chăm sóc sức khỏe, vui chơi, thể thao, giải trí, thẩm mỹ theo yêu cầu của ngƣời lao động do ngƣời sử dụng lao động đáp ứng. Là một trong các loại thu nhập nên thu nhập từ CNV cũng mang đặc điểm chung này. Khi thực hiện hoạt động CNV và nếu có thu nhập từ hoạt động này, chủ sở hữu có thể sử dụng số thu nhập có đƣợc để tái đầu tƣ tìm kiếm thêm thu nhập, cũng có 5 Khoản 4 , Mục II, Phần A Thông tư 84/2008/TT-BTC 7 thể sử dụng nó để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cá nhân, gia đình … tất cả những hoạt động này đều mang lại những lợi ích nhất định cho chủ sở hữu thu nhập.

Thu nhập từ chuyển nhƣợng vốn là khoản thu nhập không thƣờng xuyên Trên thực tế có nhiều cách phân loại thu nhập tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu. Nếu căn cứ vào tính đều đặn hay không đều đặn của việc phát sinh thu nhập ta có 6 thu nhập thƣờng xuyên và thu nhập không thƣờng xuyên. Thu nhập thƣờng xuyên là những thu nhập có tính đều đặn, lặp đi lặp lại theo một chu kỳ nhất định. Ngƣợc lại, thu nhập không thƣờng xuyên là những thu nhập không đều đặn và phát sinh một cách ngẫu nhiên, nhất thời.1 đã đề cập, thu nhập từ CNV là khoản tiền lãi nhận đƣợc khi chuyển nhƣợng phần vốn góp, CK và vốn dƣới các hình thức khác.

Khi tham gia góp vốn vào một tổ chức kinh tế nào đó, điều mà nhà đầu tƣ mong muốn là phần lợi nhuận mà mình nhận đƣợc từ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức đó, việc chuyển nhƣợng phần vốn góp để đƣợc hƣởng phần lãi do chênh lệch giữa giá lúc đầu và giá vào thời điểm chuyển nhƣợng không phải là mục đích chính của họ. Mặt khác, trong một số trƣờng hợp, quyền chuyển nhƣợng phần vốn góp có những hạn chế trong một khoảng thời gian nhất định. Chẳng hạn nhƣ đối với CTCP, trong vòng ba năm kể từ khi công ty đƣợc cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập chỉ đƣợc chuyển nhƣợng cổ phần phổ thông của mình cho ngƣời không phải là cổ đông 7 sáng lập nếu đƣợc sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Qua đó có thể thấy việc chuyển nhƣợng phần vốn góp trong các tổ chức kinh tế không phải là hoạt động mang tính thƣờng xuyên của nhà đầu tƣ do đó thu nhập (nếu có) từ chuyển nhƣợng phần vốn góp trong các tổ chức kinh tế cũng mang tính không thƣờng xuyên.

Thu nhập từ chuyển nhƣợng CK của nhà đầu tƣ cá nhân cũng mang tính không thƣờng xuyên bởi lẽ: 6 PGS.Đỗ Đức Minh (2002), Thuế TNCN và định hướng vận dụng ở Việt Nam, Nxb Tài chính, tr.10 7 Khoản 5, Điều 84 Luật Doanh nghiệp 2005. 8 Thứ nhất, trong số các nhà đầu tƣ là cá nhân thì những nhà đầu tƣ CK “thực 8 thụ” hiện rất ít mà chủ yếu họ ăn theo các đại gia lƣớt sóng theo từng thời vụ ; Thứ hai, cá nhân đầu tƣ khi tham gia vào thị trƣờng CK, có thể hoạt động chuyển nhƣợng CK để tìm kiếm lãi từ chênh lệnh giữa giá trị ban đầu và giá trị lúc chuyển nhƣợng là hoạt động thƣờng xuyên, đặc biệt đối với các nhà đầu tƣ có chiến lƣợc kinh doanh ngắn hạn. Tuy nhiên, việc có đƣợc thu nhập từ hoạt động này hay không thì không ai có thể chắc chắn đƣợc. Bởi vì, thị trƣờng CK là một thị trƣờng tiềm ẩn nhiều rủi ro, không phủ nhận việc có đƣợc thu nhập từ chuyển nhƣợng CK nhƣng những lần chuyển nhƣợng mà kết quả thu về là tay không thậm chí lỗ nặng không phải ít, có những trƣờng hợp khi thực hiện chuyển nhƣợng dù biết trƣớc là sẽ lỗ nhƣng nhà đầu tƣ vẫn thực hiện giao dịch để cắt lỗ bởi để càng lâu lỗ càng nặng.

Do đó, cũng không thể nói thu nhập từ chuyển nhƣợng CK phát sinh một cách đều đặn, theo chu kì. Tuy nhiên, cũng cần lƣu ý rằng việc phân chia và xác định thu nhập là thƣờng xuyên hay không thƣờng xuyên cũng chỉ mang tính tƣơng đối. Chẳng hạn nhƣ, vẫn có thể xem thu nhập từ chuyển nhƣợng CK là thu nhập thƣờng xuyên nếu cá nhân sở hữu thu nhập là nhà đầu tƣ “bám sàn”, có chiến lƣợc kinh doanh rõ ràng, hiệu quả và xem kinh doanh CK là hoạt động nghề nghiệp chính nuôi sống bản thân và gia đình. Tuy vậy, những trƣờng hợp này trên thị trƣờng CK Việt Nam hiện nay không nhiều và thu nhập từ chuyển nhƣợng CK vẫn mang đặc trƣng của thu nhập không thƣờng xuyên nhiều hơn.

Từ những phân tích trên, có thể kết luận rằng thu nhập từ CNV là thu nhập mang tính không thƣờng xuyên. Kết luận này ảnh hƣởng đến việc xác định thu nhập tính thuế, kỳ tính thuế cũng nhƣ áp dụng biểu thuế. Cụ thể là, các khoản thu nhập từ CNV không được tính giảm trừ gia cảnh khi xác định thu nhập tính thuế. Sở dĩ thu nhập từ CNV không đƣợc tính giảm trừ gia cảnh là do mục đích của việc giảm trừ gia cảnh là nhằm đảm bảo bảo đảm rằng cá nhân chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nƣớc khi đã đảm bảo cho cuộc sống của bản thân và gia đình, với quy định về giảm trừ gia cảnh thu nhập tính thuế đƣợc xác định bằng cách lấy thu nhập chịu thuế trừ một khoản tiền để cá nhân có thu nhập có thể đảm bảo cho đời sống của mình và thực hiện 8 TS.

Lê Thị Thủy (2009), “Những vấn đề đặt ra khi thực thi Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam”, Luật học, (04), tr. 9 nghĩa vụ tài chính với gia đình. Trong khi đó, nhìn chung thu nhập từ CNV đƣợc xem là thu nhập không thƣờng xuyên, nó không thể là nguồn thu nhập chính đảm bảo đời sống của bản thân ngƣời có thu nhập và gia đình họ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ