CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VÉ QUY BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm của bảo hiểm xã hội bắt buộc và quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc 1. Khái niệm Báo hiểm xã hội bắt buộc BHXH đã hình thành rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người và đã được nhiều nhà khoa học đề cập, nghiên cứu một cách sâu sắc dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau. BHXH đã ra đời và phát triển hàng trăm năm nay với nhiều mô hình, nhiều cách thức thực hiện khác nhau trên thế giới.
Để có được các mô hình BHXH đa dạng và phong phú như ngày nay, các nhà lý luận, các nhà quản lý đã tốn khá nhiều công sức và thời gian để nghiên cứu và tổng kết thực tiễn. Không thê không kế đến sự đấu tranh của giai cấp công nhân và người lao động trên toàn thế giới để có được các chế độ BHXH như ngày hôm nay. Chính sách BHXH ra đời xuất phát từ nhu cầu thực tiễn phát triển Kinh tế - xã hội thời kỳ cách mạng công nghiệp và từ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là giai cấp làm thuê cho giới chủ và được giới chủ trả công lao động.
Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, người lao động bị bóc lột tàn bạo và bị đối xử không công bằng. Để vượt qua những khó khăn đó, giai cấp công nhân đã liên kết lại với nhau để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau; lập ra các quỹ cứu trợ người ốm, người bị tai nạn; lập các tô chức tương tế và vận động mọi người tham gia. Đây chính là hình thái ban đầu của hệ thống BHXH và quỹ BHXH. Hệ thống BHXH đầu tiên trên thế giới ra đời từ năm 1838 dưới thời TẾ tướng Bismark.
Ban đầu chính sách BHXH chỉ có chế độ trợ cấp TNLD va BNN sau đó bổ sung trợ cấp ốm đau (năm 1865). Tuy nhiên, để có tính pháp lý cao thì phải đến năm 1883, đạo luật về BHXH mới được ban hành. Đây có thể coi là văn bản pháp luật đầu tiên về BHXH trên thế giới [7]. Đến nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã xây dựng và ngày càng hoàn thiện hệ thống BHXH như một phần quan trong trong chính sách an sinh xã hội quôc gia.
BHXH do đó là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau với các cách tiếp cận khác nhau. Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì BHXH là “sự bảo đảm những quyên lợi vật chất cho công nhân viên chức khi không làm việc vì ốm dau, sinh đẻ, già yếu, bi tai nan lao động ”[24, tr. Theo từ điển Luật học: “8HXH là chế định pháp luật lao động, gồm các quy phạm pháp luật quy định về chế độ trợ cấp, 6m đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tại nạn lao động; bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí; chế độ tử tuất nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, chăm sóc, phục hôi sức khoẻ, góp phân ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ trong các trường hợp người lao động ôm dau, thai sản, hết tuổi lao động, chết, bị tai nan lao động, bệnh nghệ nghiệp, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác ”[41, tr. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã đề cập đến BHXH là “sự bảo vệ của cộng đông xã hội đối với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội để trợ cấp trong các trường hợp ôm đau, tai nan, thương tật, già yếu, thất nghiệp ”[19].
Ở Việt Nam, BHXH đã có nền móng dưới thời phong kiến Pháp thuộc. Sau Cách mạng tháng 8 thành công, trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ đã ban hành một loạt các sắc lệnh quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên chức Nhà nước (Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947; Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950). Cơ sở pháp lý tiếp theo của BHXH được thể hiện trong Hiến pháp năm 1959. Hiến pháp năm 1959 của nước ta đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH.
Quyền này được cụ thê hóa trong Điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước, ban hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và Điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định 161/CP ngảy 30/10/1964 của Chính phủ. Ngày nay, BHXH đã trở thành một chính sách lớn được Hiến pháp thừa nhận và luật pháp quy định. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật BHXH 2014, BHXH được ghi nhận là “sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phân thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mat thu nhập do 6m dau, thai san, tai nan lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”. Như vậy, có thê hiểu BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ, khi họ gặp phải biến cố, rủi ro về sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; gan liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân NLĐ và những người ruột thịt của NLĐ trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
BHXH về thực chất là một phương thức phân phối lại thu nhập bằng các kĩ thuật nghiệp vụ, nhằm góp phần cân bằng thu nhập bị mắt hoặc giảm từ hoạt động nghề nghiệp băng khoản trợ cấp từ BHXH. Hiện nay, tại Việt Nam, BHXH được quy định bao gồm 2 hình thức là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. BHXH tự nguyện là loại hình BHXH mà đối tượng tham gia hoàn toàn tự nguyện đóng góp mức phí và thụ hưởng theo quy định. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật BHXH 2014, “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia”.
Ca hai chu thé trong quan hệ lao động là NLĐ và NSDLĐ đều có nghĩa vụ tham gia hình thức BHXHBB nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng của NLĐ khi gặp các trường hợp rủi ro dẫn đến suy giảm hoặc mắt sức lao động trong quá trình làm việc. Việc tham gia BHXHBB thể hiện trách nhiệm của NSDLĐ này đối với NLĐ khi gặp rủi ro trong công việc, mặt khác, đảm bảo vững chắc quyền lợi cua NLD trong những trường hợp rủi ro trên. Như vậy, có thể hiểu BHXHBB là sự bảo đảm thay thế hoặc bù dap mot phan thu nhập đối với NLĐ khi họ gặp rủi ro dẫn đến giảm hoặc mắt khả năng lao động trong các trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở nghĩa vụ bắt buộc tham gia cua NLD va NSDLD. Đối tượng tham gia vào hình thức BHXHBB bao gồm cả NLĐ và NSDLĐ.
Cả hai chủ thể này không có quyền lựa chọn việc tham gia, thay vào đó, họ đều có nghĩa vụ phải tham gia và thực hiện theo các quy định của pháp luật liên quan. Cơ chế bắt buộc là một đặc tính quan trọng của hình thức BHXHBB, tạo nên sự khác biệt rõ ràng với hình thức BHXH tự nguyện. Từ những đặc trưng trên, BHXHBB trở thành một cơ chế bảo vé NLD trong những trường hợp rủi ro liên quan đến quá trình làm việc. Khi NLĐ mất hoặc giảm thu nhập do gặp phải các trường hợp thuộc chế độ BHXH, họ sẽ nhận được khoản tiền nhằm bi đắp thu nhập bị mất, giúp NLD có điều kiện duy trì cuộc sống, phục hồi sức khoẻ và quay trở lại thị trường lao động.
Đối với NSDLĐ, chế độ BHXHBB thể hiện trách nhiệm của họ đối với NLĐ gap rui ro, đồng thời chia sẻ gánh nặng kinh tế khi NSDLĐ phải trực tiếp bồi thường cho NLĐ. Ở cấp độ vĩ mô, nguồn tích luỹ từ BHXHBB giúp trang trải các chỉ phí phát sinh trong quá trình điều trị và hỗ tro NLD gặp rủi ro, thể hiện tinh thần hỗ trợ tương ái của cộng đồng. Khái niệm quỹ Bảo hiểm xã hội bắt buộc Đề đảm bảo thực hiện các mục tiêu của BHXH, quỹ BHXH được hình thành và phát triển gắn liên với các chế độ BHXH nhằm đáp ứng các nhu cầu thực tế của cả NLĐ và NSDLĐ. NLĐ nhận thức rõ về các rủi ro dẫn đến việc suy giảm hoặc mất đi thu nhập, do đó, có nhu cầu thiết lập một nguồn quỹ nhằm bù đắp khoản thu nhập bị mất đi.
Về phía NSDLĐ, bản thân họ cũng chịu ảnh hưởng từ các rủi ro trên va chịu một phần trách nhiệm đối với NLĐ. Do đó, cả hai bên trong quan hệ lao động đều có nhu cầu thành lập một quỹ chung nhằm hỗ trợ cho NLĐ khi gặp các rủi ro trong quá trình làm việc. Các nguồn quỹ ban đầu chỉ mang tính chất tự phát với phạm vi nhỏ hẹp đã phát triển thành cơ chế hỗ trợ hữu ích và rộng khắp. Mối quan hệ tương trợ này nhận được sự hỗ trợ từ Nhà nước để ngày càng phát triển về quy mô trong phạm vi quốc gia, hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung và được quản lý thống nhất.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quỹ BHXH. “Theo nghĩa rộng, quỹ bảo hiểm xã hội là tập hợp những phương tiện nhằm thoả mãn những nhu câu phát sinh về bảo hiểm xã hội trên cơ sở đóng góp của những người tham gia bảo hiểm xã hội. Theo nghĩa hẹp, quỹ bảo hiểm xã hội là tập hợp những đóng góp bằng tiền của người tham gia bảo hiểm xã hội, hình thành một quỹ tiên tệ tập trung để chỉ trả cho người được bảo hiểm xã hội và gia đình họ khi bị giảm hoặc mat thu nhập đo bị giảm, mắt khả năng lao động hoặc mắt việc làm” [16, tr. “Quỹ BHXH cũng được nhận định là tập hợp những đóng góp bằng tiền của những người tham gia BHXH hình thành một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước đề chỉ trả các chế độ bảo hiểm xã hội và chỉ phí liên quan khác.