CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Khái quát về doanh nghiệp nhà nước 1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước 1. Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước là một mô hình không thể thiếu đối với tất cả mọi quốc gia trên thế giới.
Dù trong lịch sử phát triển có nhiều giai đoạn thăng trầm, DNNN vẫn giữ vai trò chủ yếu, nòng cốt ở nhiều nền kinh tế. Sự tồn tại của DNNN bắt nguồn từ nhu cầu phải giải quyết những mục tiêu về kinh tế, xã hội đảm bảo cân đối nền kinh tế, cũng như thể hiện vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường. Theo thống kê, DNNN đóng góp khoảng 10% GDP của thế giới. Ở những nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), các doanh nghiệp mà trong đó Nhà nước có cổ phần chi phối nắm giữ tài sản trị giá lên đến 2.000 tỷ USD và tạo ra hơn sáu triệu việc làm cho xã hội1.
Đúng như tên gọi của nó, “doanh nghiệp nhà nước” là những doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước hay còn được gọi là sở hữu công. Ngân hàng Thế giới đã đưa ra khái niệm về DNNN như sau: “DNNN là một chủ thể kinh tế mà quyền sở hữu hay quyền kiểm soát thuộc về Chính phủ, và phần lớn thu nhập của chúng được tạo ra từ việc bán hàng hóa và dịch vụ”. Khái niệm này được định nghĩa dựa trên lý thuyết quyền sở hữu và chi phối nói chung2. Theo đó, DNNN là doanh nghiệp mà Nhà nước giữ quyền sở hữu và chịu sự chi phối của Nhà nước dưới ba góc độ: Thứ nhất, là quyền của Nhà nước đối với những khoản thu nhập phát sinh từ hoạt động của DNNN.
Chẳng hạn, CODELCO là một DNNN khai thác đồng lớn nhất tại Chilê mang lại cho Chính phủ khoảng 7 tỷ USD mỗi năm và tất cả lợi nhuận này đều thuộc về Nhà nước. 1 Xem Trần Huỳnh Thanh Nghị (2019), Giáo trình Luật Doanh nghiệp, Nxb Lao Động, Hà Nội, trang 240. 2 Theo Lê Na (2019), Pháp luật về quản trị DNNN ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội. 7 Thứ hai, Nhà nước nắm quyền kiểm soát và sử dụng tài sản tại DNNN.
Chẳng hạn, Tập đoàn khí đốt GAZPROM (Nga) chiếm hơn 15% sản lượng khí đốt tự nhiên toàn thế giới do Chính phủ Nga nắm giữ 50,002% cổ phần và Giám đốc điều hành của GAZPROM do Chính phủ Nga bổ nhiệm. Thứ ba, Nhà nước nắm quyền quyết định chuyển nhượng hoặc bán tài sản tại doanh nghiệp nhà nước. Dù không nêu định nghĩa trực tiếp về DNNN, tuy nhiên, Liên minh Châu Âu (EU) đã công bố bốn dạng thức tồn tại của DNNN như sau: (1) DNNN là các công ty thuộc sổ hữu hoàn toàn bởi Nhà nước; (2) DNNN là các công ty mà Nhà nước có cổ phần đa số (cổ phần chi phối); (3) DNNN là các công ty mà Nhà nước nắm giữ tỷ lệ cổ phần thiểu số nhưng Nhà nước có những quyền năng đặc biệt mà pháp luật cho phép; (4) DNNN là các công ty mà nhà nước có cổ phần thiểu số và không có quyền năng đặc thù. Các công ty này không được gọi là DNNN.
Tuy nhiên, chúng phần nào phản ánh vai trò then chốt của Chính phủ đối với nền kinh tế3. Tại Việt Nam, loại hình DNNN đã hình thành từ thập niên 40 của thế kỷ XX trong Sắc lệnh số 104/SL ngày 01/01/1948 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thời kỳ này, DNNN được gọi là doanh nghiệp quốc gia – "là doanh nghiệp thuộc sở hữu quốc gia và do quốc gia điều khiển"4. Hình thức tồn tại của các doanh nghiệp quốc gia là các xí nghiệp quốc doanh trong lĩnh vực công nghiệp, các cửa hàng quốc doanh trong lĩnh vực thương nghiệp và các nông trường, lâm trường quốc doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.
Đến năm 1991, khái niệm DNNN được định nghĩa lần đầu tiên tại Điều 1 Quy chế về thành lập và giải thể DNNN ban hành kèm theo Nghị định số 388- HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng. Theo đó, "DNNN là tổ chức kinh doanh do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu". Đồng 3 Xem Trần Huỳnh Thanh Nghị (2019), Giáo trình Luật Doanh nghiệp, Nxb Lao Động, Hà Nội, trang 241. 4 Theo Điều 2 Sắc lệnh số 104/SL ngày 01/01/1948.
8 thời, "DNNN cũng được xác định là một pháp nhân kinh tế, hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật"5. Khi Luật DNNN năm 1995 ban hành, khái niệm DNNN được xác định lại tại Điều 1 như sau: "DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao". Vào thời điểm này, cả nước có đến 6. Đến Luật DNNN năm 2003, các nhà lập pháp lại đưa ra cách tiếp cận khác.
Theo đó, "DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH"6. Như vậy, doanh nghiệp được xem là DNNN nếu Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Cách tiếp cận này tương đồng với định nghĩa "DNNN là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ" tại Luật Doanh nghiệp năm 20057. Hiện tại, Khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 định nghĩa "DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ".
Với khái niệm này, tính đến cuối năm 2018, cả nước chỉ còn 490 DNNN với tổng tài sản ước tính đạt 1.843,3 nghìn tỷ đồng, vốn chủ sở hữu đạt 1.040,5 nghìn tỷ đồng8. Sắp tới đây, vào ngày 01/01/2021, Luật Doanh nghiệp năm 2020 sẽ có hiệu lực thi hành. Khái niệm DNNN được Luật Doanh nghiệp năm 2020 định nghĩa lại như sau: "DNNN được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty TNHH, công ty cổ phần, bao gồm doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết"9. Có thể thấy, khái niệm này trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã được mở rộng hơn so với Luật Doanh nghiệp năm 2014 và tương đối giống với khái niệm DNNN trong Luật Doanh nghiệp năm 2005.
5 Theo Điều 1 Quy chế về thành lập và giải thể DNNN ban hành kèm theo Nghị định số 388/HĐBT ngày 20/11/1991. 6 Theo Điều 1 Luật DNNN năm 2003. 7 Theo Khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005.vn/buc-tranh-doanh-nghiep-nha-nuoc-2018-doanh-thu-193510-ty-lai-26425-ty- htm, thứ Năm ngày 09/4/2020. 9 Theo Khoản 1 Điều 88 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản pháp luật hiện hành thì DNNN có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước thành lập và đầu tư toàn bộ vốn điều lệ. DNNN chỉ có một chủ sở hữu đặc biệt và duy nhất là Nhà nước. Nhà nước đầu tư 100% vốn tại doanh nghiệp và nắm quyền quyết định toàn bộ mọi vấn đề liên quan đến sự tồn tại, quản lý và hoạt động của DNNN. Nguồn vốn đầu tư vào DNNN có thể từ vốn ngân sách nhà nước hoặc vốn từ các quỹ do Nhà nước quản lý để đầu tư vào doanh nghiệp.
Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp, vì vậy, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn mà Nhà nước giao. Tuy nhiên, sau khi Luật Doanh nghiệp năm 2020 có hiệu lực, đặc điểm này sẽ không còn nữa vì khái niệm DNNN sẽ bao gồm thêm các "doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết"10. Thứ hai, DNNN tồn tại và hoạt động dưới hình thức công ty TNHH MTV. Bản chất của DNNN theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 là doanh nghiệp có duy nhất một chủ sở hữu là Nhà nước.
Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và thực hiện vai trò chủ sở hữu thông qua các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ (gọi chung là Bộ quản lý ngành), UBND cấp tỉnh hoặc tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật (như Ủy ban Quản lý vốn nhà nước). Các cơ quan trên được gọi chung là cơ quan đại diện chủ sở hữu11. Vì vậy, DNNN được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH MTV và hoạt động theo Luật doanh nghiệp năm 2014. Cơ quan đại diện chủ sở hữu giữ vai trò quyết định trong việc bổ nhiệm các chức danh quản lý chủ chốt như thành viên HĐTV/Chủ tịch công ty, Kiểm soát viên.
Đồng thời, các quyết định liên quan đến tổ chức lại, giải thể công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, thông qua các hợp đồng vay, cho vay, bán 10 Theo Điểm b Khoản 1 Điều 88 Luật Doanh nghiệp năm 2020. 11 Theo Khoản 1 Điều 4 Nghị định 91/2015/NĐ-CP. 10 tài sản có giá trị lớn hơn 50% giá trị tài sản của công ty,. cũng chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở có sự chấp thuận của cơ quan đại diện chủ sở hữu tại DNNN.
Luật Doanh nghiệp năm 2020 có hiệu lực thi hành cũng sẽ làm thay đổi đặc điểm này. Khi đó, DNNN không chỉ tồn tại dưới một hình thức là công ty TNHH MTV nữa mà có thể dưới nhiều hình thức khác như công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần. Tuy nhiên, với việc Nhà nước vẫn nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết thì gần như các quyết định quan trọng của doanh nghiệp đều phải có sự chấp thuận của đại diện sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp thì mới có thể được thực hiện. Với việc được tổ chức quản lý theo những mô hình quy định trong Luật Doanh nghiệp (mô hình công ty TNHH MTV theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 hoặc mô hình công ty TNHH, công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2020), DNNN trở nên bình đẳng với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như một doanh nghiệp được quy định tại Điều 7 và Điều 8 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (từ năm 2021 là Luật Doanh nghiệp năm 2020).
Thứ ba, DNNN thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội do Nhà nước giao.