Tổng quan nghiên cứu

Thị trường tài chính Việt Nam trong giai đoạn đổi mới đã chứng kiến tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng, duy trì mức tăng trưởng GDP bình quân từ 6% đến 7,5% mỗi năm. Tuy nhiên, tỷ lệ dân số tiếp cận với các dịch vụ tài chính - ngân hàng chính thức tại thời điểm nghiên cứu vẫn ở mức khiêm tốn dưới 10%. Sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế đòi hỏi hệ thống lưu chuyển tiền tệ phải vận hành linh hoạt và đa dạng hơn. Bên cạnh hệ thống ngân hàng thương mại truyền thống, các công ty tài chính đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung gian quan trọng, giúp điều tiết nguồn lực từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn, hỗ trợ đắc lực cho các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ thực trạng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của các công ty tài chính còn nhiều bất cập, thiếu tính đồng bộ và chưa tương xứng với tiềm năng thực tế. Mặc dù đã có lịch sử hình thành hơn 24 năm kể từ Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 cho đến Nghị định số 39/2014/NĐ-CP, các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh loại hình này phần lớn có hiệu lực pháp lý chưa cao, tạo ra nhiều rào cản hành chính và hạn chế năng lực cạnh tranh của định chế tài chính phi ngân hàng.

Mục tiêu cụ thể của công trình bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính; đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng từ năm 1990 đến năm 2014 tại Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của khối định chế này. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách quốc gia, góp phần mở rộng độ phủ tín dụng tiêu dùng, hỗ trợ tái cấu trúc nguồn vốn doanh nghiệp và gia tăng hiệu quả điều tiết chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết trung gian tài chính và học thuyết kinh tế thị trường về cung - cầu vốn để lý giải sự tất yếu khách quan của công ty tài chính. Trong nền kinh tế hàng hóa, sự bất đối xứng thông tin và khoảng cách giữa người sở hữu vốn nhàn rỗi với người có nhu cầu sử dụng vốn đòi hỏi sự xuất hiện của các tổ chức chuyên nghiệp. Hệ thống lý luận của luận văn tập trung vào 4 khái niệm pháp lý then chốt:

Thứ nhất, công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, có tư cách pháp nhân, thực hiện chức năng sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn hợp pháp khác để cấp tín dụng, đầu tư, cung ứng dịch vụ tư vấn tài chính tiền tệ.

Thứ hai, giới hạn nghiệp vụ ngân hàng xác định ranh giới đặc thù: công ty tài chính không được thực hiện dịch vụ thanh toán qua tài khoản và không được nhận tiền gửi của cá nhân dưới 1 năm (dưới 12 tháng).

Thứ ba, cơ chế cấp tín dụng trung gian bao gồm các hình thức cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, cho vay trả góp tiêu dùng và bao thanh toán.

Thứ tư, mô hình sở hữu đa dạng bao gồm công ty tài chính nhà nước trực thuộc tổng công ty, công ty tài chính cổ phần, công ty tài chính trực thuộc tổ chức tín dụng, công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2014, bao gồm Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và 2010, Nghị định số 79/2002/NĐ-CP, Nghị định số 81/2008/NĐ-CP, Nghị định số 141/2006/NĐ-CP, Nghị định số 39/2014/NĐ-CP và Thông tư số 06/2002/TT-NHNN.

Về phương pháp phân tích thực nghiệm, tác giả tiến hành khảo sát mẫu gồm 18 công ty tài chính tiêu biểu đang hoạt động tại thị trường Việt Nam. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng nhằm bao quát 100% các nhóm hình thức sở hữu chính: công ty tài chính nhà nước thuộc tập đoàn, công ty cổ phần và công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích chuẩn tắc kết hợp phân tích so sánh luật học là nhằm đối chiếu các quy phạm hiện hành với yêu cầu vận hành thực tế của thị trường, từ đó chỉ ra các khoảng trống pháp lý và xung đột quy chuẩn trong quá trình cấp phép, quản trị điều hành và thanh lý tổ chức. Timeline nghiên cứu tập trung sâu vào chu kỳ 15 năm phát triển từ năm 1999 đến năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích hệ thống văn bản và thực tiễn áp dụng pháp luật đã làm sáng tỏ 4 phát hiện căn bản:

Thứ nhất, về quy định vốn pháp định, Nghị định số 141/2006/NĐ-CP đã tạo ra bước ngoặt nâng chuẩn an toàn vốn khi phân chia lộ trình vốn pháp định bắt buộc từ 300 tỷ đồng (giai đoạn trước ngày 31/12/2008) lên mức 500 tỷ đồng (áp dụng sau ngày 31/12/2008). Mức vốn này tuy thấp hơn mức 3.000 tỷ đồng áp dụng cho ngân hàng thương mại, nhưng đã tạo áp lực thanh lọc lớn đối với khoảng 80% công ty tài chính có quy mô nhỏ trong giai đoạn chuyển đổi.

Thứ hai, về rào cản huy động vốn, công ty tài chính chịu sự phân biệt đối xử rõ rệt so với ngân hàng thương mại khi bị cấm nhận tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi ngắn hạn dưới 1 năm của công chúng. Điều này khiến chi phí đầu vào của công ty tài chính luôn cao hơn từ 2% đến 3,5% so với khối ngân hàng, buộc họ phải dựa vào phát hành kỳ phiếu, trái phiếu hoặc nguồn vốn nội bộ từ tập đoàn mẹ.

Thứ ba, bất cập trong điều kiện cấp phép thành lập, Điều 8 Nghị định số 79/2002/NĐ-CP duy trì các quy định mang tính định tính như "phải có nhu cầu về hoạt động của công ty tài chính trên địa bàn" và "có phương án kinh doanh khả thi". Sự thiếu vắng tiêu chí định lượng chuẩn xác đã kéo dài thời gian thẩm định hồ sơ thực tế từ 6 tháng lên tới hơn 12 tháng, cản trở quyền tự do kinh doanh của các nhà đầu tư.

Thứ tư, lộ trình tuân thủ chuyển tiếp theo Nghị định số 39/2014/NĐ-CP, luật định thời hạn 12 tháng để các công ty tài chính chấm dứt các hoạt động ngoài danh mục cho phép và 18 tháng để hoàn tất tái cấu trúc tổ chức theo giấy phép mới do Ngân hàng Nhà nước cấp.

Thảo luận kết quả

Thực trạng hoạt động của các công ty tài chính tại Việt Nam cho thấy sự phân hóa sâu sắc. Đối với các công ty tài chính thuộc tập đoàn nhà nước, tính khép kín nội bộ giúp tối ưu hóa luân chuyển dòng tiền nhưng lại tiềm ẩn rủi ro tập trung tín dụng khi các dự án nội bộ gặp sự cố. Ngược lại, khối công ty tài chính tiêu dùng và công ty có vốn nước ngoài sở hữu năng lực công nghệ và quy mô tài sản toàn cầu trên 10 tỷ USD lại gặp vướng mắc lớn trong việc mở rộng mạng lưới do thủ tục xin phép chi nhánh phức tạp.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh mức vốn pháp định giữa các định chế tín dụng (mức 500 tỷ đồng của công ty tài chính so với 3.000 tỷ đồng của ngân hàng thương mại) và bảng tổng hợp ma trận phân loại quyền hạn nghiệp vụ. So sánh với các nghiên cứu cùng thời kỳ trong khu vực Đông Nam Á, mô hình công ty tài chính Việt Nam bị bó hẹp hơn nhiều về nghiệp vụ thanh toán, dẫn đến việc chưa khai thác được thị trường cho vay tiêu dùng bán lẻ – phân khúc vốn phục vụ hơn 90% dân số chưa tiếp cận được vốn ngân hàng. Nguyên nhân sâu xa nằm ở tư duy quản lý thận trọng quá mức nhằm ngăn ngừa nguy cơ đổ vỡ dây chuyền sau cuộc khủng hoảng tín dụng những năm 1990.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn kiến nghị 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện khung pháp lý:

  1. Minh bạch hóa và đơn giản hóa điều kiện cấp phép thành lập: Bãi bỏ quy định cảm tính về "nhu cầu địa bàn" tại Điều 8 Nghị định số 79/2002/NĐ-CP; xây dựng bộ tiêu chí chấm điểm định lượng đối với phương án kinh doanh; rút ngắn thời hạn thẩm định cấp phép xuống dưới 60 ngày làm việc (giảm 50% thời gian xử lý thủ tục hành chính). Chủ thể thực hiện: Ngân hàng Nhà nước. Lộ trình: Hoàn thành trong giai đoạn 2015-2016.

  2. Mở rộng hành lang nghiệp vụ huy động vốn: Cho phép các công ty tài chính thí điểm phát hành chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn từ 6 tháng trở lên cho khách hàng tổ chức nhằm tăng thanh khoản thêm khoảng 25%; đồng thời hướng dẫn chi tiết nghiệp vụ bao thanh toán và đại lý phát hành thẻ tín dụng. Chủ thể thực hiện: Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Lộ trình: Giai đoạn 2016-2017.

  3. Nâng cao tiêu chuẩn quản trị nội bộ và kiểm soát rủi ro: Quy định chuẩn mực bắt buộc về hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) từ 9% trở lên; thiết lập cơ chế giám sát giao dịch chéo giữa công ty tài chính và tập đoàn mẹ nhằm mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 3%. Chủ thể thực hiện: Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và Hội đồng quản trị các công ty tài chính. Lộ trình: Giai đoạn 2015-2018.

  4. Xây dựng văn bản quy phạm riêng về tài chính tiêu dùng: Ban hành thông tư chuyên biệt điều chỉnh hoạt động cho vay trả góp tiêu dùng, minh bạch hóa cách tính lãi suất danh nghĩa và trần lãi suất nhằm mở rộng thị phần tài chính tiêu dùng hợp pháp lên mức 30% dân số vào năm 2020. Chủ thể thực hiện: Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ Công Thương. Lộ trình: Giai đoạn 2016-2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và lý luận cao, là tài liệu tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ: Luận văn cung cấp luận cứ thực chứng và so sánh pháp luật để phục vụ việc soạn thảo các văn bản hướng dẫn Luật Các tổ chức tín dụng, hoàn thiện các nghị định về cấp phép và thanh tra giám sát.

Thứ hai, ban điều hành, luật sư nội bộ và chuyên viên pháp chế tại các công ty tài chính, ngân hàng thương mại: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về khung tuân thủ pháp luật, quy chế quản trị rủi ro, phân định ranh giới nghiệp vụ và các điều khoản chuyển tiếp khi tái cơ cấu tổ chức.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng: Tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu với hệ thống khái niệm, lịch sử lập pháp và phương pháp tiếp cận đa chiều về định chế tài chính phi ngân hàng.

Thứ tư, các quỹ đầu tư, tập đoàn tài chính trong nước và quốc tế có ý định thâm nhập thị trường Việt Nam: Giúp nhận diện rõ các điều kiện gia nhập thị trường, giới hạn tỷ lệ sở hữu vốn và tiềm năng phát triển phân khúc tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm khác biệt cốt lõi giữa công ty tài chính và ngân hàng thương mại là gì? Công ty tài chính là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, không được phép thực hiện dịch vụ thanh toán qua tài khoản và không được nhận tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 năm của công chúng. Ngược lại, ngân hàng thương mại được thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ thanh toán, mở tài khoản và huy động mọi loại tiền gửi ngắn hạn.

  2. Mức vốn pháp định bắt buộc của công ty tài chính tại Việt Nam là bao nhiêu? Theo quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP, công ty tài chính thành lập và hoạt động trước ngày 31/12/2008 phải duy trì mức vốn pháp định tối thiểu là 300 tỷ đồng. Kể từ sau ngày 31/12/2008, mức vốn pháp định tối thiểu bắt buộc được nâng lên 500 tỷ đồng, tạo chuẩn an toàn vốn cao hơn cho thị trường.

  3. Tại sao pháp luật Việt Nam giới hạn thời hạn nhận tiền gửi của công ty tài chính từ 1 năm trở lên? Quy định này nhằm phân định rõ chức năng giữa ngân hàng thương mại (cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán) với công ty tài chính (tập trung dẫn vốn trung và dài hạn). Hạn chế này cũng giúp kiểm soát rủi ro rút tiền hàng loạt, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia.

  4. Nghị định số 39/2014/NĐ-CP quy định thời hạn chuyển tiếp xử lý các hoạt động không phép như thế nào? Theo Điều 25 Nghị định số 39/2014/NĐ-CP, các công ty tài chính có thời hạn 12 tháng kể từ ngày nghị định có hiệu lực để chấm dứt các hoạt động không được phép. Đồng thời, các đơn vị có thời hạn tối đa 18 tháng để hoàn tất chuyển đổi mô hình hoạt động theo đúng giấy phép chuẩn hóa.

  5. Thời hạn hoạt động tối đa của một công ty tài chính tại Việt Nam là bao lâu? Theo Thông tư số 06/2002/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, thời hạn hoạt động của công ty tài chính được cấp phép tối đa không quá 50 năm. Khi có nhu cầu gia hạn, đơn vị phải nộp hồ sơ xin chấp thuận từ Ngân hàng Nhà nước và mỗi lần gia hạn cũng không vượt quá 50 năm.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện lịch sử lập pháp và hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về tổ chức, hoạt động của công ty tài chính tại Việt Nam trong suốt giai đoạn 24 năm từ năm 1990 đến năm 2014.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn pháp lý thực tế, đặc biệt là rào cản về vốn pháp định từ 300 tỷ lên 500 tỷ đồng, hạn chế huy động vốn ngắn hạn dưới 1 năm và thủ tục cấp phép định tính.
  • Đánh giá vai trò kinh tế không thể thay thế của công ty tài chính trong việc tái phân phối vốn cho các tập đoàn kinh tế và phục vụ phân khúc tài chính tiêu dùng có độ phủ dưới 10% dân số.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính hành động cao, gắn liền với các mốc lộ trình giai đoạn 2015-2020 và mục tiêu tăng trưởng tín dụng an toàn, lành mạnh.
  • Luận văn là công trình khoa học có đóng góp thiết thực cho quá trình lập pháp chuyên ngành Luật Kinh tế; khuyến khích các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp tiếp tục khai thác, ứng dụng các giải pháp vào thực tiễn quản trị thị trường tài chính.