Khóa luận: Pháp luật về hoạt động cho vay tiêu dùng của các tổ chức tín dụng

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích Pháp luật về hoạt động cho vay tiêu dùng của các tổ chức tín dụng luận văn thạc sĩ luật học, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Luật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2011

62
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan pháp luật về hoạt động cho vay tiêu dùng tại VN

Pháp luật về hoạt động cho vay tiêu dùng của các tổ chức tín dụng là một lĩnh vực phức tạp, đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy kinh tế và cải thiện đời sống người dân. Hoạt động này, về bản chất, là hình thức cấp tín dụng cho cá nhân và hộ gia đình nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu không vì mục đích kinh doanh. Sự phát triển của tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam trong những năm qua phản ánh sự thay đổi trong thói quen chi tiêu, từ tích lũy sang "ứng trước, trả dần". Tuy nhiên, sự tăng trưởng này cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về một khung pháp lý cho vay tiêu dùng hoàn chỉnh và minh bạch. Các văn bản pháp luật hiện hành, chủ yếu là Luật các tổ chức tín dụng và các quy chế cho vay chung, là nền tảng điều chỉnh hoạt động này. Chúng xác định rõ chủ thể tham gia, bao gồm bên cho vay là các tổ chức tín dụng (TCTD) và bên vay là cá nhân, hộ gia đình. Nghiên cứu sâu về các quy định pháp luật về cho vay không chỉ giúp các TCTD vận hành an toàn mà còn góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vay vốn. Việc hiểu rõ các đặc điểm đặc thù như quy mô khoản vay nhỏ, số lượng giao dịch lớn, và rủi ro cao hơn so với cho vay kinh doanh là cơ sở để xây dựng các chính sách quản lý hiệu quả, đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường tài chính.

1.1. Khái niệm và đặc điểm cốt lõi của tín dụng tiêu dùng

Cho vay tiêu dùng được hiểu là hình thức cấp tín dụng mà TCTD giao cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình một khoản tiền để sử dụng vào mục đích chi tiêu, sinh hoạt, không nhằm mục đích sinh lời. Theo phân tích trong các tài liệu học thuật, hoạt động này có những đặc điểm riêng biệt. Thứ nhất, đối tượng vay vốn là cá nhân, hộ gia đình. Thứ hai, mục đích vay không phải để kinh doanh mà để tài trợ cho các nhu cầu như mua sắm, sửa chữa nhà cửa, học tập, chữa bệnh. Thứ ba, giá trị các khoản vay thường nhỏ nhưng số lượng hồ sơ lại rất lớn. Thứ tư, lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn các khoản vay thương mại để bù đắp cho rủi ro cao hơn, do nguồn trả nợ phụ thuộc vào thu nhập cá nhân (tiền lương, thưởng) vốn dễ biến động. Cuối cùng, quy mô hoạt động này chịu ảnh hưởng lớn từ chu kỳ kinh tế và thu nhập của người dân.

1.2. Phân loại và ý nghĩa của hoạt động cho vay tiêu dùng

Hoạt động cho vay tiêu dùng có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí. Dựa vào mục đích, có thể chia thành cho vay mua nhà, mua xe, du học. Dựa vào phương thức đảm bảo, có cho vay tín chấp (không có tài sản bảo đảm) và cho vay có tài sản bảo đảm. Dựa vào phương thức hoàn trả, có cho vay trả góp và cho vay thanh toán một lần. Về ý nghĩa, hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong việc kích cầu tiêu dùng, thúc đẩy sản xuất và tăng trưởng kinh tế. Đối với người dân, nó giúp cải thiện chất lượng cuộc sống, cho phép họ tiếp cận hàng hóa, dịch vụ cần thiết trước khi tích lũy đủ tiền. Đối với các ngân hàng thương mạicông ty tài chính tiêu dùng, đây là một kênh kinh doanh tiềm năng, giúp đa dạng hóa sản phẩm và phân tán rủi ro.

1.3. Các chủ thể chính tham gia vào hoạt động cho vay vốn

Quan hệ cho vay tiêu dùng có sự tham gia của ba nhóm chủ thể chính. Một là các tổ chức tín dụng (bên cho vay), bao gồm ngân hàng thương mại và các công ty tài chính, phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về giấy phép và năng lực theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Hai là bên đi vay, là cá nhân hoặc đại diện hộ gia đình có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chứng minh được khả năng trả nợ. Ba là các chủ thể thứ ba (bên trung gian), như các đơn vị bán lẻ hàng hóa, dịch vụ, tham gia vào các mô hình cho vay gián tiếp. Việc xác định rõ quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể là nền tảng để đảm bảo tính pháp lý và công bằng trong giao dịch.

II. Những thách thức và rủi ro pháp lý trong cho vay tiêu dùng

Mặc dù có tiềm năng phát triển lớn, pháp luật về hoạt động cho vay tiêu dùng vẫn còn nhiều bất cập, tạo ra không ít thách thức và rủi ro pháp lý trong hoạt động cho vay. Một trong những vướng mắc lớn nhất là sự thiếu vắng một định nghĩa pháp lý chính thức và rõ ràng về "cho vay tiêu dùng". Việc chỉ định nghĩa gián tiếp qua mục đích "phục vụ đời sống" tại Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN gây khó khăn trong việc phân biệt với các khoản vay kinh doanh nhỏ lẻ, dẫn đến lúng túng khi áp dụng lãi suất và các điều kiện vay. Sự phát triển ồ ạt nhưng thiếu kiểm soát chặt chẽ cũng tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn cho hệ thống tài chính, đặc biệt là vấn đề xử lý nợ xấu cho vay tiêu dùng. Các TCTD, trong cuộc đua giành thị phần, có thể nới lỏng quá trình thẩm định tín dụng, dẫn đến chất lượng khoản vay suy giảm. Ngoài ra, sự thiếu thống nhất giữa các văn bản pháp luật, chẳng hạn như quy định về trần lãi suất trong Bộ luật Dân sự và cơ chế lãi suất thỏa thuận của Ngân hàng Nhà nước, tạo ra một "vùng xám" pháp lý. Những thách thức này đòi hỏi phải có các giải pháp hoàn thiện pháp luật một cách đồng bộ.

2.1. Bất cập từ việc thiếu định nghĩa pháp lý cụ thể

Hiện nay, không có văn bản nào định nghĩa cụ thể "cho vay tiêu dùng". Pháp luật chỉ đề cập đến mục đích vay vốn "phục vụ đời sống". Sự mập mờ này gây khó khăn cho cả TCTD và cơ quan quản lý. Ví dụ, một khoản vay mua nhà vừa để ở vừa để kinh doanh nhỏ sẽ được xếp vào loại hình nào? Việc xác định sai mục đích có thể dẫn đến áp dụng sai khung lãi suất và điều kiện vay. Thực tế này cũng gây khó khăn trong công tác thống kê, giám sát và hoạch định chính sách của Ngân hàng Nhà nước. Hơn nữa, khi xảy ra tranh chấp, việc thiếu một khái niệm chuẩn làm cơ sở pháp lý vững chắc có thể khiến việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng trở nên phức tạp.

2.2. Phân tích rủi ro từ sự phát triển thiếu kiểm soát

Sự cạnh tranh gay gắt đã thúc đẩy các TCTD đưa ra các sản phẩm cho vay với điều kiện ngày càng thông thoáng, thậm chí bỏ qua các bước thẩm định tín dụng quan trọng. Việc cho vay dễ dãi, đặc biệt là cho vay tín chấp, làm tăng nguy cơ nợ xấu. Người tiêu dùng có thể vay vượt quá khả năng chi trả, dẫn đến mất khả năng thanh toán. Đối với nền kinh tế, việc bơm một lượng tiền lớn vào lưu thông thông qua kênh tiêu dùng mà không gắn với hoạt động sản xuất thực có thể gây ra áp lực lạm phát. Như bài học từ khủng hoảng tài chính toàn cầu, sự bùng nổ của tín dụng tiêu dùng thiếu kiểm soát có thể là ngòi nổ cho những bất ổn kinh tế vĩ mô.

2.3. Vướng mắc trong quy trình xử lý nợ xấu cho vay tiêu dùng

Quy trình xử lý nợ xấu cho vay tiêu dùng gặp nhiều khó khăn hơn so với nợ doanh nghiệp. Các khoản nợ thường nhỏ lẻ, phân tán trên lượng lớn khách hàng, khiến chi phí thu hồi nợ cao. Tài sản bảo đảm (nếu có) thường là tài sản tiêu dùng, dễ mất giá và khó xử lý. Đối với các khoản vay tín chấp, việc thu hồi nợ gần như phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của người vay. Khung pháp lý về phá sản cá nhân tại Việt Nam chưa được hình thành, tạo ra khoảng trống trong việc xử lý các trường hợp người vay mất khả năng thanh toán hoàn toàn. Điều này đặt gánh nặng và rủi ro pháp lý trong hoạt động cho vay lên vai các TCTD.

III. Phân tích khung pháp lý cho vay tiêu dùng của TCTD hiện nay

Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Việt Nam hiện được điều chỉnh bởi một hệ thống văn bản pháp luật chung, chưa có luật chuyên ngành. Nền tảng pháp lý quan trọng nhất là Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN (cùng các văn bản sửa đổi, bổ sung). Luật các tổ chức tín dụng quy định các nguyên tắc chung về hoạt động cấp tín dụng, các giới hạn để đảm bảo an toàn hệ thống, và trách nhiệm của tổ chức tín dụng. Trong khi đó, Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN chi tiết hóa các điều kiện vay vốn, quy trình cho vay, và các nội dung cơ bản của hợp đồng cho vay tiêu dùng. Ngoài ra, các Nghị định của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và các Thông tư của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất, phân loại nợ cũng có tác động trực tiếp. Tuy nhiên, việc áp dụng một khung pháp lý cho vay tiêu dùng chung cho cả hoạt động kinh doanh và tiêu dùng đã bộc lộ nhiều hạn chế, chưa phản ánh hết tính đặc thù của loại hình cho vay này. Việc nghiên cứu kỹ lưỡng các văn bản này là cần thiết để hiểu rõ giới hạn và cơ hội trong việc phát triển sản phẩm tín dụng tiêu dùng.

3.1. Quy định trong Luật các tổ chức tín dụng năm 2010

Luật các tổ chức tín dụng 2010 là văn bản pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng thương mại và công ty tài chính. Luật định nghĩa "cấp tín dụng" bao gồm cả hoạt động cho vay, đồng thời đặt ra các quy định nghiêm ngặt về các trường hợp không được cấp tín dụng, giới hạn cấp tín dụng để ngăn ngừa rủi ro tập trung và cho vay nội bộ. Điều 126 của Luật này quy định rõ các đối tượng không được vay vốn, nhằm đảm bảo tính minh bạch và an toàn. Những quy định này áp dụng chung cho mọi hoạt động cho vay, bao gồm cả cho vay tiêu dùng, tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cơ bản cho hệ thống.

3.2. Vai trò của Quyết định 1627 2001 QĐ NHNN và các sửa đổi

Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN về quy chế cho vay là văn bản nền tảng, quy định chi tiết về quy trình nghiệp vụ. Văn bản này nêu rõ các nguyên tắc và điều kiện vay vốn như: khách hàng phải có năng lực pháp luật và hành vi dân sự, mục đích sử dụng vốn hợp pháp, có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ. Nó cũng là cơ sở để các TCTD xây dựng quy trình thẩm định tín dụng và quản lý khoản vay. Mặc dù được ban hành từ lâu, các quy định cốt lõi của Quyết định 1627 vẫn là kim chỉ nam cho hoạt động cho vay nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng cho đến thời điểm luận văn được thực hiện.

3.3. Tác động của các thông tư nghị định liên quan đến cho vay

Bên cạnh các văn bản chính, hoạt động cho vay tiêu dùng còn chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản dưới luật. Đáng chú ý là các thông tư của Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh về lãi suất cho vay tiêu dùng, chẳng hạn như các văn bản cho phép thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận. Ví dụ, Thông tư 12/2010/TT-NHNN đã trao quyền tự chủ lớn hơn cho TCTD trong việc ấn định lãi suất. Các Nghị định của Chính phủ về giao dịch bảo đảm cũng đóng vai trò quan trọng trong các khoản vay có tài sản thế chấp, quy định về việc đăng ký và xử lý tài sản bảo đảm, góp phần giảm thiểu rủi ro cho bên cho vay.

IV. Phương pháp quy định hợp đồng và lãi suất cho vay tiêu dùng

Việc thiết lập hợp đồng cho vay tiêu dùng và xác định lãi suất cho vay tiêu dùng là hai trong số những vấn đề pháp lý phức tạp nhất. Hợp đồng tín dụng là cơ sở pháp lý ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên, do đó cần được soạn thảo một cách chặt chẽ, minh bạch. Các quy định pháp luật về cho vay yêu cầu hợp đồng phải có đầy đủ các điều khoản cơ bản như mục đích vay, số tiền, thời hạn, lãi suất, và phương thức trả nợ. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều hợp đồng được soạn theo mẫu, với các điều khoản có lợi cho TCTD, đặt người tiêu dùng vào thế yếu. Vấn đề lãi suất càng phức tạp hơn khi có sự xung đột giữa quy định trần lãi suất của Bộ luật Dân sự 2005 và cơ chế lãi suất thỏa thuận trong các thông tư của NHNN. Điều này tạo ra một môi trường pháp lý không nhất quán. Việc hiểu rõ các phương pháp xác định lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và các loại phí phạt là rất quan trọng để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vay vốn và tránh các tranh chấp không đáng có.

4.1. Các điều khoản thiết yếu trong hợp đồng cho vay tiêu dùng

Một hợp đồng cho vay tiêu dùng hợp pháp và chặt chẽ phải bao gồm các điều khoản cơ bản được quy định tại Điều 17 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN. Các điều khoản này bao gồm: thông tin các bên, mục đích sử dụng vốn vay, số vốn, phương thức cho vay, thời hạn, lãi suất và phương thức tính lãi, phương thức trả nợ, các quy định về bảo đảm tiền vay (nếu có), và các điều khoản xử lý vi phạm. Sự rõ ràng và minh bạch trong từng điều khoản, đặc biệt là cách tính lãi và các loại phí, là yếu tố then chốt để hạn chế giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng sau này. Các TCTD có trách nhiệm của tổ chức tín dụng trong việc giải thích rõ các điều khoản này cho khách hàng trước khi ký kết.

4.2. Vấn đề lãi suất cho vay và cơ chế thỏa thuận

Lãi suất là vấn đề nhạy cảm nhất. Tại thời điểm nghiên cứu của luận văn, tồn tại sự không thống nhất giữa Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005 (quy định lãi suất không vượt quá 150% lãi suất cơ bản) và các thông tư của NHNN cho phép thỏa thuận lãi suất. Thực tế, các TCTD thường áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận, đặc biệt đối với các khoản vay tiêu dùng có rủi ro cao. Tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến mức lãi suất thực tế rất cao, gây gánh nặng cho người vay. Cần có quy định yêu cầu TCTD phải công bố rõ ràng cách tính lãi suất (trên dư nợ ban đầu hay dư nợ giảm dần) để người vay có đầy đủ thông tin trước khi đưa ra quyết định.

4.3. Quy định về phí trả nợ trước hạn và lãi suất quá hạn

Pháp luật hiện hành cho phép các TCTD áp dụng phí phạt khi khách hàng trả nợ trước hạn và áp dụng lãi suất quá hạn khi trả nợ chậm. Theo Điều 478 Bộ luật Dân sự, bên vay trả nợ trước hạn vẫn có thể phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn nếu không có thỏa thuận khác. Nhiều TCTD áp dụng một khoản "phí" trả nợ trước hạn, thường được quy định chung chung trong hợp đồng. Đối với nợ quá hạn, lãi suất thường được tính bằng 150% lãi suất trong hạn. Các quy định này, dù cần thiết để TCTD quản lý dòng tiền, nhưng cần được minh bạch hóa trong hợp đồng để tránh gây bất lợi và bất ngờ cho người tiêu dùng.

V. Hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay tiêu dùng

Để thị trường tín dụng tiêu dùng phát triển lành mạnh và bền vững, việc hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cấp bách. Các giải pháp cần tập trung vào việc giải quyết những bất cập cốt lõi đã được phân tích. Trước hết, cần xây dựng một văn bản pháp luật chuyên ngành hoặc một chương riêng trong luật hiện hành để điều chỉnh hoạt động này, trong đó phải có định nghĩa rõ ràng về cho vay tiêu dùng. Thứ hai, cần thống nhất các quy định về lãi suất, giải quyết mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự và các văn bản của Ngân hàng Nhà nước, đồng thời đưa ra cơ chế giám sát việc áp dụng lãi suất thỏa thuận để tránh tình trạng cho vay nặng lãi. Thứ ba, cần chuẩn hóa các quy định trong hợp đồng cho vay tiêu dùng theo hướng bảo vệ người vay, đặc biệt là các điều khoản về phí và lãi phạt. Cuối cùng, việc nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, giám sát của NHNN và xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng hiệu quả là những yếu tố không thể thiếu để tạo ra một khung pháp lý cho vay tiêu dùng minh bạch, công bằng và an toàn.

5.1. Đề xuất xây dựng văn bản pháp luật chuyên ngành

Giải pháp căn cơ nhất là xây dựng một luật hoặc nghị định riêng về cho vay tiêu dùng. Văn bản này sẽ định nghĩa rõ ràng các thuật ngữ, phân loại các sản phẩm cho vay, và quy định cụ thể về điều kiện, quy trình, và trách nhiệm của tổ chức tín dụng cũng như người vay. Việc có một văn bản chuyên ngành sẽ giúp hệ thống hóa các quy định đang nằm rải rác, loại bỏ sự chồng chéo, mâu thuẫn và tạo ra một hành lang pháp lý nhất quán, dễ áp dụng cho cả công ty tài chính tiêu dùngngân hàng thương mại.

5.2. Hoàn thiện quy định về lãi suất và hợp đồng tín dụng

Cần sửa đổi các quy định pháp luật liên quan đến lãi suất để tạo sự thống nhất. Nên quy định rõ ràng phạm vi áp dụng của cơ chế lãi suất thỏa thuận, đi kèm với các biện pháp yêu cầu công khai, minh bạch thông tin. Đối với hợp đồng, cần ban hành các quy định về hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng, trong đó liệt kê các điều khoản cấm hoặc hạn chế đưa vào hợp đồng để bảo vệ người vay. Điều này giúp cân bằng vị thế của các bên trong giao dịch và tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vay vốn.

5.3. Nâng cao hiệu quả giám sát và cơ chế giải quyết tranh chấp

Ngân hàng Nhà nước cần tăng cường vai trò thanh tra, giám sát việc tuân thủ các quy định pháp luật về cho vay của các TCTD, đặc biệt là giám sát rủi ro hệ thống và chất lượng tín dụng. Đồng thời, cần phát triển các cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án (như hòa giải, trọng tài) để xử lý các mâu thuẫn phát sinh từ hợp đồng cho vay một cách nhanh chóng, hiệu quả và ít tốn kém. Việc này không chỉ bảo vệ người vay mà còn giúp các TCTD thu hồi nợ thuận lợi hơn, góp phần làm lành mạnh hóa thị trường.

04/10/2025
Pháp luật về hoạt động cho vay tiêu dùng của các tổ chức tín dụng luận văn thạc sĩ luật học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu  Chƣơng 1: Lý luận chung về hoạt động cho vay tiêu dùng của các tổ chức tín dụng  Chƣơng 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về hoạt động cho vay tiêu dùng tại các tổ chức tín dụng  Phần kết luận 3 SVTH: Nguyễn Thị Hồng PL về hoạt động cho vay tiêu dùng của các TCTD GVHD:TS Phan Thị Thành Dƣơng CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG 1.1 KHÁI QUÁT VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG 1.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng Xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ kéo theo đó là sự phân hóa các giai tầng trong xã hội, những ngƣời có mức thu nhập cao sẽ dƣ thừa nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống trong khi đó một bộ phận không nhỏ lại thiếu vốn để chi tiêu, sản xuất. Những ngƣời có của cải nhàn rỗi muốn tìm cách để bảo đảm an toàn và khai thác lợi nhuận từ nguồn tài chính đó, ngƣợc lại những ngƣời không đủ tài chính để đáp ứng nhu cầu của mình lại muốn huy động sự hỗ trợ từ những ngƣời khác. Dần dần quan hệ lƣu thông hàng hóa tiền tệ hình thành để cân bằng nhu cầu trong xã hội, hoạt động cho vay ra đời từ chính những nhu cầu này. Khái niệm cho vay hiểu theo nghĩa chung nhất là việc một ngƣời thỏa thuận để cho ngƣời khác đƣợc quyền sử dụng tài sản của mình trong một thời hạn nhất định với 1 điều kiện có hoàn trả dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình đối với ngƣời đó.

Trên 2 thực tế chúng ta thƣờng sử dụng thuật ngữ cho vay để chỉ một quan hệ cấp tín dụng có thể là bằng tiền hoặc bằng tài sản giữa một tổ chức, cá nhân này với một tổ chức, cá 3 nhân khác. Trong quan hệ tài chính thì cho vay có thể hiểu theo các nghĩa sau :  Cho vay là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng sau một thời gian nhất định quay về với lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu.  Trong một mối quan hệ tài chính cụ thể cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn cho bên cho vay vô điều kiện theo thời hạn thỏa thuận. Từ những quan điểm trên theo tác giả cho vay có thể đƣợc hiểu là sự chuyển dịch tạm thời một lƣợng giá trị là tiền hoặc tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi.

Ngày nay cho vay là một hoạt động truyền thống và chủ yếu của các tổ chức tín dụng. Thông qua hoạt động cho vay các TCTD thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dƣới hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động đƣợc từ trong xã hội để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống. Bản chất của 1 Đại học Luật Hà Nội (2005), “giáo trình luật ngân hàng”, ,Nxb Công An Nhân Dân, (tr 127) 2 Khoa luật thƣơng mại, trƣờng Đại học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh (2010), “giáo trình luật ngân hàg”,Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, ( tr 220) 3 PGS.TS Nguyễn Thị Mùi (2008), “quản trị ngân hàng thương mại”,Nxb Tài Chính, (tr 25) 4 SVTH: Nguyễn Thị Hồng PL về hoạt động cho vay tiêu dùng của các TCTD GVHD:TS Phan Thị Thành Dƣơng cho vay là một giao dịch về tiền hoặc tài sản trên cơ sở có hoàn trả mà thực chất là sự vay mƣợn dựa trên sự tin tƣởng, tín nhiệm lẫn nhau. Khái niệm cho vay đã đƣợc ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau theo đó cho vay dƣới góc độ pháp luật ngân hàng đƣợc định nghĩa là một trong những hoạt động cấp tín dụng của TCTD, trong đó bên cho vay (trong trƣờng hợp này là các tổ chức tín dụng) giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một 4 khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.

Trong những năm gần đây nhu cầu tiêu dùng của ngƣời dân trong xã hội ngày càng cao cùng với việc thị phần cho vay của các TCTD đang dần bị thu hẹp trên thị trƣờng bởi sự tham gia ngày càng đông đảo của các TCTD trong và ngoài nƣớc. Sự cạnh tranh mạnh mẽ trong hoạt động cho vay đã khiến các TCTD phải liên tục mở rộng, khai thác thị trƣờng mới đồng thời tìm kiếm những khách hàng tiềm năng để thu lợi nhuận. Một trong những hình thức cho vay đang đƣợc các TCTD khai thác và đang phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam trong thời gian gần đây là hoạt động cho vay tiêu dùng. Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông “tiêu dùng là việc sử dụng của cải vật chất vào 5 mục đích sản xuất hoặc phục vụ đời sống”.

Nhu cầu tiêu dùng là những đòi hỏi, ƣớc muốn của con ngƣời đối với hàng hóa và dịch vụ xung quanh nhằm đảm bảo cho sự tồn tại của một cá nhân hay một tập thể. Nhu cầu tiêu dùng của con ngƣời là cái có 6 trƣớc hành vi tiêu dùng , là nguyên nhân bên trong và là động lực căn bản của hoạt động tiêu dùng. Dƣới góc độ pháp luật cho đến thời điểm này chƣa có một văn bản pháp lý nào quy định cụ thể thế nào là cho vay tiêu dùng. Theo Quyết định (QĐ) 1627/2001/QĐ-NHNN về quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng quy định “tổ chức tín dụng xem xét quyết định cho khách hàng vay theo các thể loại ngắn hạn, trung hạn, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống và các dự án đầu tƣ phát triển”.

Nhƣ vậy khách hàng đƣợc vay vốn để sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống theo quy định của Ngân hàng Nhà Nƣớc (NHNN). Tuy nhiên mục đích kinh doanh, thƣơng mại hay tiêu dùng đƣợc hiểu nhƣ thế nào thì không có quy định cụ thể từ phía NHNN. Hiện tại Luật thƣơng mại 2005 đã có quy định hoạt động thƣơng mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch 4 Xem khoản 16 điều 2 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 và khoản 1 điều 3 Quyết định 1627/2001/QĐ- NHNN ngày 31/12/2001 về Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng 5 Viện ngôn ngữ học (2002), “từ điển tiếng việt phổ thông”, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh., (tr 912) 6 Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ “ hành vi tiêu dùng là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trƣờng với nhận thức và hành vi của con ngƣời mà qua sự tƣơng tác đó con ngƣới thay đổi cuộc sống của họ” 5 SVTH: Nguyễn Thị Hồng PL về hoạt động cho vay tiêu dùng của các TCTD GVHD:TS Phan Thị Thành Dƣơng 7 vụ, đầu tƣ xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Khái niệm hoạt động kinh doanh cũng đã đƣợc đề cập đến trong Luật Doanh nghiệp 2005 kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục 8 đích sinh lợi.

Chính vì vậy loại trừ hoạt động kinh doanh, thƣơng mại theo quy định tại Luật Doanh Nghiệp và Luật Thƣơng Mại 2005 ra thì mục đích tiêu dùng có thể đƣợc hiểu là hoạt động nhằm phục vụ cho các nhu cầu sinh hoạt, chi tiêu trong đời sống hàng ngày của ngƣời tiêu dùng không nhằm mục đích lợi nhuận hay sinh lời. Nhƣ vậy thông qua cách hiểu gián tiếp nhƣ trên thì chúng ta có thể hiểu cho vay tiêu dùng là khoản tín dụng cấp cho khách hàng (trong trƣờng hợp này là cá nhân, hộ gia đình) để tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng. Mục đích của khoản vay chủ yếu là đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt, chi tiêu của khách hàng vay (nhƣ cho vay để mua nhà trả góp, mua xe ô tô trả góp, vay du học…) chứ không trực tiếp phục vụ cho hoạt động kinh doanh thƣơng mại. Trên thực tế cách hiểu cho vay tiêu dùng nhƣ trên vẫn đƣợc các TCTD áp dụng rộng rãi trên phạm vi cả nƣớc và đƣợc thực hiện trong nhiều năm qua để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ cho vay tiêu dùng.

Cụ thể là các TCTD đã đƣa ra hàng loạt sản phẩm cho vay đƣợc hiểu theo nghĩa tiêu dùng chẳng hạn nhƣ: cho vay mua ô tô, vay mua nhà để ở, cho vay sửa chữa nhà, vay du học…. Tóm lại từ thực tiễn hoạt động của các TCTD và khái niệm về hoạt động cho vay nói chung của các TCTD đối với khách hàng chúng ta có thể hiểu hoạt động cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay (trong trƣờng hợp này là các TCTD) giao hoặc cam kết giao một khoản tiền cho bên đi vay là cá nhân và hộ gia đình nhằm đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của ngƣời tiêu dùng. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp những ngƣời này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ…trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi. Bên cạnh đó những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du học…cũng đƣợc tài trợ bởi hoạt động cho vay tiêu dùng.2 Nhu cầu hình thành hoạt động cho vay tiêu dùng Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong xã hội.

Khi con ngƣời đã vƣợt qua mức sống trung bình thì nhu cầu hƣởng thụ ngày càng gia tăng mong muốn của họ không chỉ là “ăn no, mặc ấm” mà giờ là “ăn ngon mặc đẹp” và sử dụng hàng hóa có giá trị. Tuy nhiên nhu cầu hƣởng thụ lại phụ thuộc vào khả năng thanh toán của mỗi ngƣời. Đôi khi nhu cầu đó là cần thiết nhƣng nguồn 7 Xem khoản 1 điều 3 Luật thƣơng mại 2005 8 Xem khoản 2 điều 4 luật Doanh nghiệp 2005 6 SVTH: Nguyễn Thị Hồng PL về hoạt động cho vay tiêu dùng của các TCTD GVHD:TS Phan Thị Thành Dƣơng tài chính của họ lại không có đủ một lúc để thanh toán cho chi phí đó, thậm chí chỉ vì không đủ khả năng thanh toán mà họ phải từ bỏ những nhu cầu thiết yếu của mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ