CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CÓ TÀI SẢN BẢO ĐẢM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Ngân hàng thương mại 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại Theo Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính (The Economics o Money, Banking, and inancial Markets) của tác giả rederic S. Mishkin trường đại học Columbia (Mỹ), trong hệ thống tài chính có tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp.
Tài chính trực tiếp là hình thức tài trợ vốn mà người thiếu vốn vay vốn trực tiếp từ người có vốn trong thị trường tài chính thông qua các giấy tờ có giá (các công cụ tài chính). Ngược lại, tài chính gián tiếp là hình thức tài trợ vốn mà người vay vốn và người có vốn kết nối với nhau thông qua các trung gian tài chính. Các loại hình trung gian tài chính có thể kể đến là tổ chức nhận tiền gửi, tổ chức nhận tiền gửi theo hợp đồng và trung gian đầu tư. Đặc điểm nguồn vốn của loại hình trung gian tài chính này là nhận tiền gửi linh hoạt theo các kỳ hạn khác nhau và tiền gửi chiếm tỷ trọng chính.
Đặc điểm tài sản nổi bật là các khoản cho vay với các mục đích và kỳ hạn đa dạng. Ngân hàng thương mại chính là ví dụ điển hình cho tổ chức nhận tiền gửi – trung gian tài chính quan trọng trong hệ thống tài chính của các quốc gia. Ngân hàng thương mại là một trong những nhà cung cấp tín dụng chính cho khu vực hộ gia đình và doanh nghiệp; và vận hành cơ chế thanh toán. Ngân hàng thương mại thường là công ty cổ phần hoặc thuộc sở hữu tư nhân (Nguồn: Casu, 2015).
Chức năng của ngân hàng thương mại Thứ nhất, ngân hàng thương mại với tư cách là một trung gian tài chính mang đầy đủ các chức năng mà một trung gian tài chính nên có đó là giảm chi phí giao dịch, giảm sự bất cân xứng thông tin và chia sẻ rủi ro với khách hàng. Trước hết các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng giảm chi phí giao dịch nhờ quy mô và tính chuyên nghiệp của chúng. Theo đó, trong The Economics o Money, Banking, and 6 inancial Markets, Mishkin nêu rõ: “Lý do vì sao những trung gian tài chính là cần thiết để có được lợi ích đầy đủ của thị trường tài chính là ở chỗ: có những chi phí thông tin và chi phí giao dịch lớn trong nền kinh tế. Để những người cho vay nhận ra được những người muốn cho vay là vấn đề đòi hỏi chi phí đắt tiền.
Khi một người cho vay tìm ra được một người muốn vay, ông ta có thêm một khó khăn là phải chi phí thì giờ và tiền cho một cuộc kiểm tra tín nhiệm để biết được liệu người vay có thể hoàn trả vốn của ông ta không”. Như vậy, các trung gian tài chính nói chung hay điển hình là ngân hàng nói riêng giúp các khách hàng của mình giảm được chi phí giao dịch nhờ vào quy mô và tính chuyên nghiệp của mình. Không chỉ có chức năng giảm chi phí giao dịch, các ngân hàng thương mại còn giảm được sự bất cân xứng thông tin. Lý thuyết về thông tin bất cân xứng lần đầu tiên được nhắn đến bởi Gerge Akerlo trong “The Market or “Lemons”: Quality Uncertainty and the Market Mechanism” vào năm 1970.
Bất cân xứng thông tin được đề cập trên đây là tình trạng: Không phải mọi người đều có được thông tin giống nhau, thông tin của một người có được thường không phải/ ít hơn thông tin hoàn hảo và một bên luôn thường không bao giờ có đầy đủ thông tin về giao dịch như bên còn lại. Hậu quả của bất cân xứng thông tin gây ra chính là lựa chọn đối nghịch (Adverse selection) và rủi ro đạo đức (Moral hazard). Trước tiên, lựa chọn đối nghịch là tình huống thông tin bất cân xứng xảy ra trước khi tiến hành giao dịch: Khi một bên trong giao dịch có lợi thế thông tin về một đặc điểm nào đó mà bên kia không thể quan sát với độ chính xác tuyệt đối khiến bên kia không thể đưa ra quyết định chính xác và tối ưu. Bên có lợi thế về thông tin có thể lợi dụng đặc điểm này để che dấu, bóp méo thông tin theo hướng có lợi cho mình.
Còn bên thiếu thông tin hơn cầu hiểu được bất lợi này để tìm các biện pháp buộc bên có nhiều thông tin phải bộc lộ những đặc điểm hay thông tin cần biết. Hậu quả của bất cân xứng thông tin xảy ra sau khi giao dịch đó là rủi ro đạo đức (Moral hazard). Trong đó một bên trong giao dịch có ít thông tin hơn bên kia về hành động của bên kia sau khi giao kết hợp đồng. Do bên có nhiều thông tin hơn có thể dễ dàng che đậy hành động của mình, nên họ có xu hướng hành động đi ngược lại lợi ích của bên kia và theo hướng có lợi cho mình.
Bằng việc dựa trên cơ sở nền tảng của những vấn đề về thông tin bất cân xứng cùng với các giải pháp về cơ chế sàng lọc “Screnning” và cơ chế phát tín hiệu 7 “Signaling”, tài sản đảm bảo xuất hiện trong cơ sở để đưa ra quyết định tín dụng như là một giải pháp cho vấn đề thông tin bất cân xứng ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng, đồng thời tài sản đảm bảo cũng giữ vai trò là công cụ “sàng lọc” loại khách hàng, hạn chế tổn thất khi xảy ra rủi ro tín dụng, ngăn ngừa rủi ro đạo đức. Xavier Freixas, Jean – Charles Rochet (2008) trong “Microeconomics o Banking” đã đưa ra cơ sở khoa học cho việc xem tài sản bảo đảm như một công cụ để “sàng lọc” những khách hàng đi vay. Thứ hai, chức năng trung gian thanh toán của NHTM được thể hiện như sau: NHTM nắm giữ tài khoản của rất nhiều khách hàng khác nhau đồng thời việc sử dụng tiền mặt ngày càng hạn chế giúp NHTM trở thành thủ quỹ cho doanh nghiệp và cá nhân từ đó cung cấp cho khách hàng nhiều sản phẩm thanh toán tiện lợi. Cuối cùng, NHTM thực hiện chức năng tạo tiền dựa trên cơ sở chức năng trung gian thanh toán và trung gian tài chính.
Thông qua chức năng trung gian thanh toán: NHTM mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng, số dư trên tài khoản này là bộ phận của lượng tiền giao dịch. Thông qua chức năng trung gian tín dụng: NHTM sử dụng vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, dịch vụ bằng cách chuyển khoản sang tài khoản của người bán tại NHTM khác. Theo pháp luật Việt Nam, ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Trước hết, cho vay theo pháp luật Việt Nam được hiểu là một hình thức cấp tín dụng. Tín dụng nói chung được định nghĩa là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức giá trị hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị 8 lớn hơn giá trị ban đầu. Nếu xem xét ở một góc độ hẹp hơn, tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Như vậy từ khái niệm trên có thể rút ra được bản chất của tín dụng ngân hàng: Thứ nhất, tín dụng phải dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa bên cho vay và bên đi vay. Chỉ khi nào người cho vay thực sự tin tưởng vào sự sẵn lòng và khả năng trả nợ của người đi vay, khi đó quan hệ tín dụng mới được thiết lập. Đây chính là điều kiện tiên quyết hình thành quan hệ tín dụng. Mặt khác, người đi vay cũng tin vào hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn đi vay của mình.
Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng tài sản của ngân hàng cho người đi vay trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả cả gốc và lãi. Thứ ba, sau một thời gian như đã thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay một lượng giá trị gồm cả gốc và lãi. Phần chênh lệch này là giá của việc sử dụng quyền sử dụng vốn của người khác. Do vậy nó phải đủ lớn để đem lại sự hấp dẫn cho người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn.
Cuối cùng, hoạt động tín dụng luôn chứa đựng những rủi ro. Đó là do sự mất cân xứng thông tin của khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Rủi ro đó ngoài những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía ngân hàng và khách hàng còn có những nguyên nhân khách quan như: sự biến động của thị trường, chu kỳ kinh tế, sự thay đổi của chính sách, những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh… 1. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế Nền kinh tế thị trường luôn luôn tồn tại các yếu tố cạnh tranh, các doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh thị trường, nâng cao vị thế cạnh tranh của mình thì không còn con đường nào khác là phải không ngừng nâng cao quy mô và chất lượng hoạt động kinh doanh của mình.
Để làm được điều đó và sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn thì tín dụng ngân hàng là sự lựa chọn tối ưu của các doanh nghiệp. Thứ nhất, tín dụng ngân hàng góp phần giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa nhà đầu tư và nhà tiết kiệm 9 Như chúng ta đã biết, tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu của các ngân hàng thương mại. Để thực hiện quá trình kinh doanh tín dụng, ngân hàng phải có nguồn vốn và trên cơ sở đó đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng của nền kinh tế. Thực tế cho thấy, trong nền kinh tế thường xuyên xuất hiện những nguồn vốn bằng tiền tạm thời chưa sử dụng đặc biệt là tiền tiết kiệm của dân chúng.