CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHAP LUẬT BẢO LÃNH THỰC HIỆN HỢP DONG TIN DỤNG 1.1 KHÁI NIỆM BẢO LÃNH VÀ SỰ CẨN THIẾT CỦA BẢO LÃNH THỰC HIỆN HỢP DONG TÍN DỤNG 1.1 Khái niệm bảo lãnh thực hiện hợp đồng tín dụng 1.1 Bảo lãnh - Biện pháp bdo dam thực hiện nghĩa vụ Trong đời sống xã hội, con người bao giờ cũng tồn tại trong mối liên hệ với nhau và với môi trường xung quanh. Chính nhờ mối liên hệ này, nghĩa vụ dân sự phát sinh một cách khách quan. Theo nghĩa đơn giản nhất, nghĩa vụ dân sự được hiểu là quan hệ pháp lý mà theo đó một người phải thi hành điều cam kết với người khác, người được thi hành gọi là gọi là người có quyền còn người phải thi hành là người có nghĩa vụ. Tuy vậy, việc thực hiện nghĩa vụ không phải bao giờ cũng theo đúng các cam kết đó.
Người có quyền thường đứng trước hai nguy cơ: thứ nhất là người có nghĩa vụ không thực hiện cam kết (ví dụ như cam kết trả lại tài sản, cam kết hoàn thành một công việc.), thứ hai là quyền ưu tiên thanh toán, bồi hoàn không được đảm bảo. Để bảo đảm quyền lợi của người có quyền trong trường hợp người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ pháp luật các nước thường quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ nhìn chung được chia thành hai loại là bảo đảm đối vật và bảo đảm đối nhân. Bảo đảm đối vật có đặc trưng là người có nghĩa vụ dùng một số tài san để đảm bảo cho nghĩa vụ còn bảo đảm đối nhân có đặc trưng là một người thứ ba đứng ra bảo lãnh cho việc thực hiện nghĩa vụ.
Thuộc loại bảo đảm đối vật có các biện pháp như cầm cố, thế chấp. Bảo đảm đối nhân gồm biện pháp bảo lãnh. Mỗi biện pháp bảo đảm có những ưu, nhược điểm nhất định. Trên thực tế, tuỳ thuộc vào nội dung của mỗi loại quan hệ nghĩa vụ và điều kiện cụ thể của các chủ thể mà các chủ thể lựa chọn biện pháp bảo đảm nào cho thích hợp.
Chang hạn, nếu người có quyền có san các tài sản đủ điều kiện để đảm bao họ có thể lựa chon biện pháp bao đảm đối vật. Ngược lại nếu người có quyền không sản có tài sản bảo đảm nhưng có người đứng ra bảo đảm cho nghĩa vụ thì biện pháp ưu tiên hàng đầu sẽ là bảo lãnh. Khái niệm bảo lãnh dưới góc độ kinh tế xã hội và góc độ pháp lý được hiểu theo các cách khác nhau. Đồng thời, bảo lãnh theo quy định của pháp luật các nước khác nhau cũng có những điểm khác biệt.
Theo từ điển tiếng Việt bảo lãnh được hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, bảo lãnh là bảo đảm người khác thực hiện một nghĩa vụ và chịu trách nhiệm nếu người đó không thực hiện; thứ hai là việc dùng tư cách, uy tín của mình để bảo đảm cho hành động, tư cách của người khác. Từ định nghĩa trên cho thấy dưới góc độ kinh tế xã hội, bảo lãnh chính là việc một người đứng ra đảm bảo về việc thực hiện nghĩa vụ của người khác. Trong trường hợp người có nghĩa vụ không thực hiện được thì người bảo lãnh phải chịu trách nhiệm cho việc không thực hiện đó [40, tr 37].
Theo phương diên pháp lý, nhìn chung khái niệm bảo lãnh được quy định tương đối giống nhau trong pháp luật của các nước. Theo quy định của pháp luật Mỹ, bảo lãnh được hiểu là thoả thuận trong đó người bảo lãnh đồng ý sẽ thực hiện nghĩa vụ nợ của bên nợ chỉ khi bên nợ không trả nợ; bảo lãnh là việc bên bảo lãnh bảo đảm hoặc hứa thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện [52, tr 487]. Trong luật Pháp bản chất của bảo lãnh là “người nhận bảo lãnh một nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó đối với người có quyền nếu chính người có nghĩa vụ không thi hành” [2, Điều 2011]. Theo pháp luật Trung Quốc bảo lãnh được hiểu là hành vi mà căn cứ vào thoả thuận giữa người bảo lãnh và chủ nợ, người bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc chịu trách nhiệm nếu con nợ không trả được nợ [22, Điều 6].
Còn Luật Việt Nam quy định “bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là người được bảo lãnh), nếu khi đến thời han mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc người bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi người được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình” [3, Điều 366]. Như vậy, mặc dù có những định nghĩa khác nhau nhưng bảo lãnh được hiểu chung nhất chính là cam kết của bên thứ 3 với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh và sự vi phạm nghĩa vụ của bên được bảo lãnh chính là điều kiện cho việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Với tư cách là một trong những biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ.
bảo lãnh mang đặc diém chung của các biện pháp bảo dam cho nghĩa vụ như phát sinh từ sự thoả thuận của các bên, mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính, có mục đích nhằm nâng cao trách nhiệm của các bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, có phạm vi bảo đảm không vượt quá phạm vi của nghĩa vụ chính và chỉ được áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ. Ngoài ra bảo lãnh còn có đặc điểm riêng của biện pháp bảo đảm đối nhân. Chính nhờ những đặc điểm riêng biệt này, người ta có thể dễ dàng phân biệt bảo lãnh với các biện pháp bảo đảm khác như cầm cố, thế chấp. Dưới đây chúng tôi tập trung vào phân tích một số điểm đặc trưng của bảo lãnh: Thứ nhất, bdo lãnh là biện pháp bảo đảm đối nhân.
Bảo lãnh thuộc loại bảo dam đối nhân, theo đó người thứ ba đứng ra bảo lãnh cho việc thực hiện nghĩa vụ. So sánh với các biện pháp bảo đảm đối vật có sự khác biệt rất cơ bản. Trong bảo đảm đối vật, bên nhận bảo đảm có quyền đối với tài sản bảo đảm và quyền ưu tiên thanh toán từ tài sản bảo đảm. Quyền năng này giúp chủ thể luôn có được tài sản nếu cần để bảo đảm cho nghĩa vụ.
Trong trường hợp nghĩa vụ không thực hiện được, chủ nợ có thể chủ động thu nợ từ tài sản bảo đảm bằng nhiều cách thức khác nhau như tự bán tài sản, nhận chính tài sản để trừ nợ hay tổ chức bán đấu giá. Để thực hiện được quyền năng này, chủ nợ thường giữ tài sản bảo đảm (cầm cố tài sản). Trong trường hợp vì các lý do kinh tế hay điều kiện thực tế của các bên, chủ nợ không nhất thiết phải giữ tài sản bảo đảm nhưng vẫn có cơ chế để chủ nợ giữ quyền kiểm soát với tài sản. Chẳng hạn, g1ữ giấy gid sở hữu tài sản đó trong trường hop thế chấp tài sản.
Đối với bảo lãnh, bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) được quyền yêu cầu đối với chính bên cam kết thực hiện nghĩa vụ trả thay (bên bảo lãnh) chứ không được quyền ưu tiên thu nợ từ một tài sản cụ thể nào của bên có nghĩa vụ. Để bảo đảm quyền năng này, người bảo lãnh phải bảo đảm cho nghĩa vụ bằng toàn bộ tài sản của mình, chứ không phải chỉ giới hạn trong phạm vi một số tài sản nhất định. Tuy nhiên, trên thực tế còn có hình thức “bảo lãnh đối vật”, nghĩa là người bảo lãnh chỉ chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh trong phạm vi giá trị tài san dem thế chấp hoặc cầm cố. Điều 9 Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về giao dịch bảo đảm quy định “bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh có quyền thoả thuận bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh bằng tài sản quy định tại điều 7 và điều 8 nghị định này”.
Ngoài ra, Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 có quy định biện pháp bảo lãnh bang tài sản của bên thứ 3. Với các quy định này có thể dẫn tới nhầm lẫn rằng bảo lãnh bang tài sản cụ thể của bẻn thứ 3 (bảo lãnh bằng cầm co, thế chấp tài sản của bên thứ 3) là bao đảm đối vat. Nhưng thực chất quyền nang mà người nhận bảo đảm có được Ở đây vẫn là quyền yêu cầu người bảo lãnh bảo đảm cho khoản nợ được thực hiện. Còn người đứng ra bảo lãnh cảm cố hay thế chấp tài sản của mình cho nghĩa vụ bảo lãnh là để giới hạn nghĩa vụ bảo lãnh trong phạm vi tài sản nhất định.
“Bảo lãnh đối vật” hoàn toàn không phải là bảo đảm đối vat. Thứ hai, bảo lãnh là nghĩa vụ phụ. Có thể nói, các biện pháp bảo đảm nói chung và bảo lãnh nói riêng không thể tồn tại nếu không có nghĩa vụ chính. Khi nghĩa vụ chính không còn thì bảo lãnh cũng không còn cơ sở tồn tại.
Bên cạnh đó, do bảo lãnh để đảm bảo cho một nghĩa vụ nhất định nên giá trị của nghĩa vụ bảo lãnh phụ thuộc vào giá trị của nghĩa vụ được bảo lãnh và phạm vi bảo lãnh không thể vượt quá phạm vi nghĩa vụ được bảo lãnh. Tuy vậy, xét dưới góc độ bảo lãnh là cam kết của người bảo lãnh với người nhận bảo lãnh thì bảo lãnh vẫn có tính độc lập tương đối!. Thứ ba, phạm vi bảo lãnh có thể là một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ. Bảo lãnh xuất phát từ sự thoả thuận, tự do ý chí của các bên do vậy pháp luật không thể có quy định cứng nhắc về phạm vi bảo lãnh.
Các bên có thể thoả thuận bảo lãnh cho một phần hay toàn bộ nghĩa vụ. Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam, “người bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho người được bảo lãnh”. Việc lựa chọn bảo lãnh cho toàn bộ nghĩa vụ hay chỉ một phần phụ thuộc vào điều kiện của các chủ thể. Trong trường hợp hợp đồng không nêu rõ bảo lãnh cho một phần nghĩa vụ cụ thể thì có thể hiểu là bảo lãnh cho toàn bộ nghĩa vụ.
Tuy vậy, việc quy định cụ thể phạm vi bảo lãnh sẽ giúp các chủ thể tránh được các tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ có thể phát sinh. Thứ tu, bảo lãnh chi được áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ.