Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC - LIÊN HỆ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH Trước khi bàn luận về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, đồng thời liên hệ vấn đề đó vào lĩnh vực kinh doanh, chúng tôi muốn khái quát những nội dung cơ bản nhất về các khái niệm này, coi đó là cái gốc đề nhìn nhận một cách tổng thể, rộng hơn, khái quát hơn về tầm điều chỉnh của pháp luật và đạo đức trong các quan hệ xã hội nói chung và trong kinh doanh nói riêng. Các khái niệm cơ bản 1. Pháp luật và pháp luật kinh doanh 1.
Khái niệm pháp luật Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm pháp luật, nhưng một cách chung nhất, trên cơ sở khái quát những thuộc tính và chức năng cơ bản nhất, pháp luật được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội [38, tr. Khái niệm pháp luật kinh doanh Là một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật kinh doanh được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành, hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong quan hệ kinh doanh. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đối tượng điều chỉnh của pháp luật kinh doanh - quan hệ kinh doanh - là quan hệ giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh. Hoạt động đó, theo định nghĩa tại khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005, “là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Như vậy, kinh doanh là một khái niệm rất rộng. Với mục đích tìm kiếm lợi nhuận, nhưng kinh doanh không chỉ là “tổ chức mua bán để thu lời" [25, tr. 326] (mua hàng hoá từ người cung cấp và bán lại cho người mua để tìm kiếm giá trị chênh lệch một cách giản đơn) như cách nhiều người quan niệm trước đây mà còn bao gồm một chuỗi các hoạt động từ đầu tư vốn, đầu tư công nghệ, xây dựng nhà xưởng, tổ chức, quản lý sản xuất, tìm kiếm thị trường, phân phối hàng hoá, cung cấp dịch vụ… Tất nhiên, một nhà kinh doanh có thể thực hiện tất cả các khâu, hoặc một số khâu hay chỉ một khâu trong quá trình đó. Nhưng dù ở khâu nào, từ phức tạp nhất đến đơn giản nhất, từ thu lời nhỏ nhất đến có lãi cao nhất, thì vẫn không thể nhìn nhận nhà kinh doanh như những kẻ ăn trắng mặc trơn, làm giàu trên lưng người khác.
Thị trường ngày càng tự do, mở rộng với rất nhiều đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước, do vậy kinh doanh thực sự là một đấu trường mà các nhà kinh doanh thực sự phải đầu tư rất nhiều thời gian, công sức, trí tuệ, tài chính. cho sự tồn tại và phát triển của mình. Do các mối quan hệ trong kinh doanh rất đa dạng và phức tạp (quan hệ giữa cơ sở kinh doanh với nhà nước, quan hệ giữa các thành viên công ty, quan hệ giữa người lao động với người sử dụng lao động, quan hệ giữa cơ sở kinh doanh với các nhà cung cấp và các khách hàng, quan hệ giữa cơ sở kinh doanh với các chủ thể khác trong xã hội, với môi trường…), nên tầm điều chỉnh của pháp luật kinh doanh cũng rất rộng. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hệ thống pháp luật kinh doanh bao gồm: pháp luật về hợp đồng, doanh nghiệp, cạnh tranh, tài chính, lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ, v.
Đạo đức và đạo đức kinh doanh 1. Khái niệm đạo đức Theo nghĩa chiết tự, “đạo” là “một cái đạo lý, một cái lẽ nhất định, là ai cũng phải noi đấy mà theo” [22; tr. 614]; “đức” có nghĩa là “cái đạo để lập thân, thiện, làm thiện, cảm hóa đến người…” [22; tr. Như vậy, đạo đức có thể hiểu là cái lẽ về việc thiện, là những chuẩn mực, những quy tắc, những quan niệm hình thành trong xã hội về lẽ sống, về “tốt” - “xấu”, về “thiện” - “ác”, về lương tâm, về danh dự.
Đạo đức có phạm vi điều chỉnh rất rộng, ở nhiều mức độ khác nhau và hầu như bao khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội. Khái niệm đạo đức kinh doanh: “Đạo đức kinh doanh” (business ethics) cũng được xây dựng trên những nền tảng cơ bản của đạo đức nói chung. Nó là “tập hợp các nguyên tắc, các chuẩn mực điều chỉnh và kiểm soát hành vi kinh doanh của một cá nhân, một nhóm người hay một nhóm ngành nghề nhất định” [36, tr. Những nguyên tắc nền tảng của đạo đức kinh doanh bao gồm: - Nguyên tắc rèn luyện tính quan tâm đúng mức; - Nguyên tắc bí mật; - Nguyên tắc trung thành với những trách nhiệm đặc biệt; - Nguyên tắc tránh sự xuất hiện xung đột về quyền lợi; - Nguyên tắc tự nguyện tuân thủ pháp luật; - Nguyên tắc hành động có thiện chí trong các cuộc đàm phán; - Nguyên tắc tôn trọng hạnh phúc của mọi người; - Nguyên tắc tôn trọng quyền tự do và các quyền hạn hợp pháp khác [36, tr.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đạo đức trong kinh doanh được nhìn nhận ở tất cả các mối quan hệ phát sinh trong quá trình kinh doanh của một doanh nghiệp: quan hệ giữa doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh, giữa doanh nghiệp với khách hàng, giữa doanh nghiệp với nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ, quan hệ giữa các cổ đông, các thành viên công ty với nhau, quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động, cách hành xử của doanh nghiệp đối với môi trường… Bên cạnh đó, đạo đức kinh doanh cũng có thể hiểu một cách rộng hơn, ngoài các mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh thuần túy, thể hiện qua những hành vi tương tự đạo đức hàng ngày của chủ thể kinh doanh với tư cách là một thành viên tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội như: đền ơn đáp nghĩa, làm từ thiện… Nếu những hành động này được thực hiện một cách tự nguyện, xuất phát từ ý thức trách nhiệm của chủ thể kinh doanh đối với xã hội chứ không nhằm mục đích duy nhất là quảng cáo hình ảnh, đánh bóng tên tuổi… thì đó cũng được coi là một hành vi đạo đức của chủ thể kinh doanh. Tuy nhiên, chúng tôi không bàn về đạo đức kinh doanh theo hướng là tất cả các hành vi đạo đức của chủ thể kinh doanh mà chỉ xem xét theo nghĩa hẹp, tức là đạo đức gắn liền với hoạt động kinh doanh. Theo nghĩa này, đạo đức trong kinh doanh có những khác biệt nhất định với đạo đức trong sinh hoạt, ứng xử hàng ngày. Bởi lẽ, người kinh doanh luôn phải quan tâm đến các yếu tố: lợi nhuận, thời cơ và thị trường.
Quá trình tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường cũng giống như phân chia một cái bánh, nếu người này được thêm một phần thì đương nhiên người kia sẽ không có phần đó. Ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt, còn hoạt động kinh doanh về bản chất không phải là làm từ thiện. Không ai kinh doanh mà không quan tâm đến lợi ích của mình trước tiên, kể cả những nhà kinh doanh có đạo đức nhất. Những quy tắc đạo đức trong kinh doanh, vì thế, cũng cho phép người ta hành xử khác với đạo đức trong sinh hoạt thường nhật.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ví dụ: Trong cuộc sống hằng ngày, các quy tắc đạo đức yêu cầu con người phải thật trung thực, thậm chí hi sinh lợi ích bản thân nếu như việc đạt được lợi ích đó sẽ gây tổn hại - dù ít, dù nhiều - đến chủ thể khác. Trong kinh doanh lại không hẳn như vậy. Chẳng hạn, khi tham gia một thương vụ, bên bán cố tình chào mức giá cao hơn mức mà tại đó họ có thể chấp nhận bán với lợi nhuận hợp lý. Sau khi thương lượng, hai bên mua và bán đã thống nhất một mức giá “thuận mua vừa bán”, thấp hơn mức giá ban đầu bên bán đưa ra, nhưng vẫn đảm bảo bên bán có lãi.
Xét dưới góc độ đạo đức hàng ngày, hành động của bên bán là không hoàn toàn phù hợp với đạo đức vì anh ta đã cố tình “nói thách”, muốn bên mua chịu thiệt nhiều hơn để tối đa hoá lợi nhuận cho mình. Song trong kinh doanh, chuyện mặc cả, thương lượng để đạt tới một cái giá thuận mua vừa bán là một cách hành xử hết sức bình thường (trừ khi nói thách thái quá, lừa dối về giá trị hay ép giá…). Có nghĩa dưới góc độ đạo đức kinh doanh thì việc nâng khống giá lên một chút cũng chưa thể bị đánh giá là phi đạo đức. Bản thân bên bán cũng như bên mua hoàn toàn biết rõ và chấp nhận điều ấy.
Ví dụ trên cho thấy rằng, quan niệm đạo đức trong kinh doanh có những tiêu chuẩn riêng mà đôi khi chúng ta không thể lấy những khuôn khổ tuyệt đối để áp đặt cho nó. Để đánh giá một hành vi, một quyết định là phù hợp hay không phù hợp với đạo đức kinh doanh, chúng ta cần xem xét trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức chung kết hợp với đặc thù của nghề nghiệp này. Nói như Montesquieu: “Tinh thần thương mại tạo cho con người một ý thức về công bằng đúng mức. Một mặt nó phản đối cướp bóc, mặt khác nó phản đối đạo đức đơn thuần khiến người ta không muốn tranh chấp gay gắt về mình mà sao nhãng lợi ích người khác” [27, tr.
Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức - liên hệ trong lĩnh vực kinh doanh 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tính chất của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức Pháp luật và đạo đức xét dưới giác độ xã hội đều tồn tại dưới dạng ý thức xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng và do cơ sở hạ tầng quyết định. Giữa pháp luật và đạo đức có mối quan hệ biện chứng.