Chương 1: Lý luận pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất tại địa bàn thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. 6 Chƣơng 1 LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1.
Lý luận về tặng cho quyền sử dụng đất và nhu cầu điều chỉnh pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất 1. Khái niệm, đặc điểm quyền sử dụng đất Đất đai là tài nguyên hữu hạn của một quốc gia; là tài sản có giá trị nhất do giá trị của đất đai trong cuộc sống nói chung và trong sản xuất nông nghiệp nói riêng. Đất đai là một trong các bộ phận lãnh thổ của quốc gia nên việc quản lý đất đai do Nhà nước thực hiện. Chế độ, chính sách về đất đai luôn được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước và xã hội 1.
Quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản và thường có giá trị rất lớn, được Nhà nước quản lý chặt chẽ bằng cả một hệ thống quy phạm pháp luật với cơ chế quản lý về đất đai từ Trung ương đến địa phương. Theo Hiến pháp năm 2013 cũng như LĐĐ năm 2013 “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” 2, 3. Với tư cách là đại diện chủ sở hữu, Nhà nước có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với đất đai. Thực tế, Nhà nước không trực tiếp quản lý và khai thác lợi ích trên từng mảnh đất mà phần lớn giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài.
QSDĐ của chủ sử dụng đất là quyền phái sinh xuất hiện khi được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, cho phép nhận chuyển QSDĐ hay công nhận QSDĐ; đây là một quyền tài sản đặc biệt nên việc trở thành đối tượng trong các giao dịch dân sự như tặng cho cũng cần phải tuân theo những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật mà không hoàn toàn tùy thuộc vào ý chí của bên tặng cho như đối với các tài sản khác. Vậy QSDĐ là một loại tài sản ở dạng quyền tài sản đặc biệt của một chủ thể nhất định mà giá trị của tài sản này chính là giá trị khai thác công dụng của đất được xác định bằng tiền đối với một diện tích đất trong thời hạn sử dụng đất với đại diện chủ sở hữu đất đai là Nhà nước và chủ thể có quyền sử dụng là NSDĐ4. Hiến pháp năm 2013 - Điều 53, 54. Luật Đất đai năm 2013 - Điều 4.
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2016. 7 Quyền sử dụng đất có những đặc điểm nhất định sau: Về chủ sở hữu: Toàn dân với đại diện là Nhà nước. Vì vậy, Nhà nước có đầy đủ quyền năng đối với đất đai là quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Trong quá trình khai thác quyền, Nhà nước thực hiện chức năng chủ yếu đối với đất đai là chức năng thống nhất quản lý đối với đất đai; chức năng điều phối đối với đất đai.
Về quyền sử dụng: Nhà nước trao QSDĐ lại cho chủ sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ. Khi Nhà nước trao QSDĐ cho NSDĐ, thì QSDĐ lại được coi là một loại tài sản, cụ thể là một loại quyền tài sản. Về các giao dịch liên quan đến QSDĐ: Không phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của các bên tham gia giao dịch mà còn phải tuân thủ các quy định được ban hành theo thẩm quyền quản lý Nhà nước về đất đai. Tặng cho quyền sử dụng đất và các đặc điểm tặng cho quyền sử dụng đất 1.
Khái niệm tặng cho quyền sử dụng đất Pháp luật Việt Nam hiện nay không thừa nhận các hình thức sở hữu khác về đất đai ngoài hình thức sở hữu toàn dân. Hiến pháp 2013 và LĐĐ năm 2013 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân” 5 và 6 trong BLDS năm 2015 cũng quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” 7 đã có sự thống nhất trong văn bản có hiệu lực cao nhất của nhà nước về sở hữu đất đai. Nhà nước ta không thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai nhưng Nhà nước công nhận cho NSDĐ có QSDĐ bao gồm các quyền gần như các quyền của chủ sở hữu. QSDĐ là một quyền tài sản, quyền này trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự.
QSDĐ là trường hợp đặc biệt, mặc dù là quyền sử dụng nhưng NSDĐ có những quyền “Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn QSDĐ” 8 những quyền này thực chất là quyền của chủ sở hữu chứ không 5. Hiến pháp năm 2013 - Điều 54. Luật Đất đai năm 2013 - Điều 4. Bộ luật Dân sự năm 2015 - Điều 197.
Hiến pháp năm 2013 - Điều 167. 8 phải quyền sử dụng như tên gọi. Xong định đoạt đối với QSDĐ cũng có những đặc thù như việc định đoạt phải thực hiện trong thời hạn sử dụng đất, đúng mục đích, nhìn chung với những tài sản khác thì việc định đoạt QSDĐ có những hạn chế trong những quyền mà NSDĐ được phép thực hiện. Như vậy, Nhà nước là chủ sở hữu đối với đất đai, Nhà nước thực hiện quyền sở hữu của mình bằng cách giao đất cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức QSDĐ lâu dài, ổn định, ngoài các quyền người sử dụng họ còn có quyền định đoạt, chuyển nhượng, tặng cho.
LĐĐ năm 2013 quy định “Tặng cho QSDĐ thực chất cũng chỉ là một dạng đặc biệt của chuyển nhượng QSDĐ nhưng việc chuyển nhượng này có giá trị bằng không”. Tặng cho QSDĐ là việc chuyển QSDĐ từ chủ thể này sang chủ thể khác mà không có sự đền bù về mặt vật chất. Khái niệm về tặng cho QSDĐ phải được xem xét ở nhiều phương diện khác nhau, theo phương diện khách quan thì tặng cho QSDĐ là các quy phạm pháp luật của Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ tặng cho phát sinh trong quá trình dịch chuyển QSDĐ giữa các chủ thể với nhau. Đó là quy định về điều kiện, nội dung, hình thức của hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa bên tặng cho và bên được tặng cho.
BLDS năm 2005 quy định về hợp đồng tặng cho QSDĐ trên cơ sở quy định quyền tặng cho QSDĐ của LĐĐ năm 2003 đến BLDS năm 2015 quy định chung về Hợp đồng về QSDĐ trên cơ sở NSDĐ được thực hiện các quyền “Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn QSDĐ” 9. Xét theo phương diện chủ quan thì tặng cho QSDĐ là một giao dịch dân sự, trong đó các bên tự trao đổi, thỏa thuận với nhau về việc tặng cho QSDĐ để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định nhằm thỏa mãn các nhu cầu sử dụng đất. Sự thỏa thuận về việc tặng cho QSDĐ này là sự thống nhất ý chí giữa bên tặng cho và bên được tặng cho. Theo đó bên tặng cho chuyển giao QSDĐ của mình cho bên được tặng cho mà không yêu cầu bên được tặng cho trả cho mình bất cứ lợi ích vật chất nào; còn bên được tặng cho đồng ý nhận QSDĐ mà bên kia cho tặng.
Như vậy hợp đồng tặng cho QSDĐ không chỉ là sự thỏa thuận để dịch chuyển QSDĐ từ bên tặng cho sang bên được tặng cho mà nó còn là sự thỏa thuận để làm phát sinh hay chấm dứt 9. Luật Đất đai 2013 - Điều 167 9 các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. Do đó, trên phương diện chủ quan có thể nêu một cách khái quát về khái niệm: “Tặng cho QSDĐ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao QSDĐ cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng đất”. Xét về hai phương diện trên, khi các bên thỏa thuận cho nhau QSDĐ theo đúng quy định của pháp luật thì được Nhà nước thừa nhận sự thỏa thuận đó và giao dịch tặng cho QSDĐ có hiệu lực, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong hợp đồng được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Giao dịch này thực hiện dưới hình thức hợp đồng 10. Theo quy định tại BLDS năm 2015 thì: “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, cỏn bên được tặng cho đồng ý nhận”. Do đó, tặng cho QSDĐ được hiểu như sau: “Tặng cho quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa bên tặng cho và bên được tặng cho, theo đó bên tặng cho giao quyền sử dụng đất cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về đất đai”. Giao dịch tặng cho là một phương thức quan trọng bảo đảm cho việc dịch chuyển quyền sử dụng đất từ bên tặng cho sang bên nhận tặng cho nhằm thỏa mãn các nhu cầu về sử dụng đất” 11.
Đặc điểm của tặng cho quyền sử dụng đất Tặng cho QSDĐ là một loại tặng cho tài sản, do đó ngoài những đặc điểm của tặng cho tài sản và tặng cho QSDĐ có các đặc điểm riêng cơ bản sau: - Tặng cho QSDĐ là một hợp đồng không có đền bù như các giao dịch tặng cho khác tặng cho QSDĐ tiến hành giữa các bên dựa trên các mối quan hệ tình cảm sẵn có giữa các chủ thể bởi giá trị rất lớn của đối tượng tặng cho. Trên cơ sở quan hệ tình cảm đó, các chủ thể thiết lập với nhau hợp đồng tặng cho QSDĐ nhằm giúp đỡ lẫn nhau thỏa mãn nhu cầu về sử dụng đất. Lê Thị Hoài An, Đại học Vinh: Quy định của pháp luật về tặng cho tài sản ở một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2016.