Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG 1. PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG 1. Khái quát sự hình thành, phát triển của pháp luật về công chứng ở nước ta Hệ thống công chứng ở nước ta được thành lập kể từ khi Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước. Việc ban hành Nghị định đã đặt ra cơ sở pháp lý cần thiết cho các hoạt động công chứng là một chức năng nhà nước rất cần thiết trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Tiếp đó, Chính phủ đã có thêm hai lần ban hành các nghị định về công chứng đó là: Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 và Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 75/2000/NĐ-CP). Các văn bản nêu trên là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần cho việc xây dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động công chứng, nghề công chứng ở Việt Nam. Trên cơ sở tổng kết 15 năm thi hành pháp luật về công chứng, kể từ khi ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991 về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước, ngày 29/11/2006 Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật Công chứng số 82/2006/QH11, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2007, đây là một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao, điều chỉnh một cách toàn diện và đồng bộ lĩnh vực công chứng nhằm khắc phục những điểm hạn chế bất cập về mặt tổ chức, hoạt động và quản lý công chứng ở nước ta, cụ thể hóa nội dung về hoàn thiện thể chế về công chứng ở nước ta trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau khi Luật Công chứng số 82/2006/QH11 được Quốc hội thông qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Công chứng, cụ thể như sau: - Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/01/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng.
- Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp (sửa đổi, bổ sung các chế tài xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng). - Nghị định số 04/2013/NĐ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng (thay thế Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/01/2008). - Quyết định số 250/QĐ-TTg ngày 10/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án -Xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam đến năm 2020-. - Quyết định số 240/QĐ-TTg ngày 17/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành -Tiêu chí quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam đến năm 2020-.
- Quyết định số 2104/QĐ-TTg ngày 29/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt -Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020-. - Thông tư liên tịch số 91/2008/TTLT-BTC-BTP ngày 17/10/2008 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng. - Thông tư số 11/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số nội dung về công chứng viên, tổ chức và hoạt động công chứng, quản lý nhà nước về công chứng. - Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 19/01/2012 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và sử dụng phí công chứng (thay thế Thông tư liên tịch số 91/2008/TTLT- BTC-BTP ngày 17/10/2008).
- Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ Tư pháp ban hành Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng. - Quyết định số 01/2008/QĐ-BTP ngày 20/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành một số mẫu giấy tờ dùng trong hoạt động công chứng. Sau 7 năm triển khai thi hành Luật Công chứng số 82/2006/QH11, ngày 20/6/2014, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Công chứng số 53/2014/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2015 thay thế cho Luật Công chứng số 82/2006/QH11 nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới của hoạt động công chứng theo chủ trương xã hội hóa, nâng cao chất lượng và tính bền vững của hoạt động công chứng, từng bước phát triển nghề công chứng Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế. Ngoài ra, bên cạnh hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Công chứng, các công chứng viên còn phải áp dụng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến công chứng: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật hôn nhân và gia đình, Luật cư trú, Luật doanh nghiệp, Luật kinh doanh bất động sản.
Một số nội dung chính của Luật Công chứng số 82/2006/QH11 1. Khái niệm công chứng Việc xác định khái niệm công chứng là vấn đề mấu chốt của hoạt động công chứng. Khái niệm công chứng đã được nêu trong 3 nghị định của Chính phủ về công chứng: Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991, Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 và Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000. Việc thể hiện cụ thể khái niệm này có sự khác nhau, song có sự giống nhau về cơ bản như sau: công chứng là việc chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kế thừa quy định của các nghị định nêu trên, Điều 2 của Luật Công chứng số 82/2006/QH11 đưa ra khái niệm công chứng như sau: "Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng" [39]. Hợp đồng, giao dịch có công chứng được coi là hình thức mang tính xác thực cao nhất và thường được pháp luật quy định với các trường hợp sau: a) Đối với các hợp đồng có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp; b) Đối tượng của nó là những tài sản mà Nhà nước cần phải quản lý, kiểm soát. Từ khái niệm trên cho thấy, có hai loại hợp đồng, giao dịch được công chứng. Loại thứ nhất là những hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định bắt buộc phải công chứng.
Quy định này phù hợp với quy định tại Điều 401 của Bộ luật Dân sự: 1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó. Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác [36].
Loại thứ hai là những hợp đồng, giao dịch mà nhà nước không bắt buộc phải công chứng nhưng cá nhân, tổ chức cảm thấy cần thiết nên tự nguyện yêu cầu công chứng. Nguyên nhân là do hợp đồng, giao dịch có công chứng sẽ bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên khi tham gia giao kết. Việc đảm bảo tính an toàn pháp lý được thể hiện ở chỗ: công chứng viên xác nhận tính xác thực, tính 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hợp pháp của những tình tiết trong nội dung hợp đồng, giao dịch, bảo đảm cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên ngay từ khi giao kết, kiểm tra năng lực hành vi, tính tự nguyện, chữ ký của các chủ thể tham gia hợp đồng, giao dịch, kiểm tra nội dung và mục đích của hợp đồng, giao dịch có vi phạm điều cấm của pháp luật, có trái đạo đức hay không, đối tượng hợp đồng, giao dịch là có thật hay giả mạo, hình thức của hợp đồng, giao dịch có phù hợp với quy định của pháp luật không. Trong trường hợp nếu có tranh chấp xảy ra thì văn bản công chứng là chứng cứ tin cậy nhất để các chủ thể tham gia hợp đồng, giao dịch tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; đồng thời đây cũng là chứng cứ để Tòa án, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng.
Quy định này được cụ thể hóa tại Điều 6 của Luật Công chứng số 82/2006/QH11, quy định về giá trị pháp lý của văn bản công chứng: 1. Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu [39]. Đây là vấn đề quan trọng, là lý do tồn tại của công chứng.
Giá trị chứng cứ không phải chứng minh của văn bản công chứng đã được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 80 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004: "c) Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp" [35]. Cơ sở thực tiễn của việc quy định này là: Các tình tiết, sự kiện về thời gian, địa điểm xác lập hợp đồng, giao dịch, năng lực hành vi dân sự, sự tự 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nguyện của chủ thể hợp đồng, giao dịch, nội dung trong hợp đồng, giao dịch, chữ ký của các bên hợp đồng, giao dịch. là những tình tiết, sự kiện đã được công chứng viên nhìn thấy trước mắt trong khi diễn ra việc ký kết hợp đồng và công chứng viên được Nhà nước giao nhiệm vụ chứng nhận điều đó. Do đó, sau này các bên ký kết hợp đồng không thể chối cãi theo một cách khác.
Vì vậy, các tình tiết, sự kiện đó sẽ được Tòa án mặc nhiên công nhận là có giá trị chứng cứ không phải chứng minh.