Chương 1: Cơ sở lý luận của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã hội tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội từ thực tiễn thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. 7 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về ảo hiểm ã h i 1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội ra đời đã đánh dấu một bước tiến quan trọng, đáp ứng nguyện vọng đông đảo người lao động, bảo đảm an sinh xã hội cho mỗi quốc gia và hội nhập quốc tế.
Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. BHXH đã xuất hiện từ rất lâu mà mầm mống của nó từ thế kỷ XIII ở Nam Âu khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hóa đã bắt đầu phát triển. Tuy nhiên ban đầu BHXH chỉ mang tính chất sơ khai, với phạm vi nhỏ hẹp. Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời, để bảo vệ lẫn nhau trong hoạt động nghề nghiệp họ đã thành lập nên các quỹ tương trợ để giúp đỡ lẫn nhau.
Ở Anh năm 1973 đã thành lập hội “bằng hữu” để giúp đỡ các hội viên khi bị ốm đau, tai nạn nghề nghiệp. Hệ thống bảo hiểm xã hội lần đầu tiên trên thế giới được hình thành vào giữa thế kỷ XIX là công trình của Chính phủ Đức dưới thời Thủ tướng Bismark. Năm 1893 Thụy Sĩ lập quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo hình thức tự nguyện với cơ chế ba bên (Nhà nước - giới chủ - giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho người lao động trong một số trường hợp họ g p rủi ro. ô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước ỹ Latin, rồi đến Bắc ỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, bảo hiểm xã hội đã lan rộng sang các nước giành độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribe. Đến đầu thế kỷ XX có nhiều nước công nghiệp Châu Âu đã ban hành Luật Bảo hiểm thất nghiệp theo hình thức tự nguyện được Nhà nước trợ cấp. 8 Luan van Ở nước ta, BHXH có từ thời kỳ phong kiến Pháp thuộc. Xét về m t lịch sử, BHXH xuất hiện vào những năm 30 của thế kỷ XX, một số chế độ được áp dụng khi đó là chế độ ốm đau, chế độ tai nạn, chế độ hưu trí và cũng chỉ áp dụng cho một số đối tượng làm việc, phục vụ trong bộ máy hành chính, quân đội của Pháp.
Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng h a ra đời, tại văn bản pháp luật cao nhất đó có những quy định về BHXH, thể hiện sự quan tâm và nhận thức của Nhà nước về vấn đề này. Điều 14 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Những người công dân già cả hoặc tàn tật, không làm được việc thì được giúp đỡ…”. Sau đó, các sắc lệnh số 29-SL ngày 12/3/1947, Sắc lệnh số 76-SL ngày 20/5/1950, Sắc lệnh số 77-SL ngày 22/5/1950 ở các mức độ khác nhau quy định về quyền hưởng BHXH của NLĐ thông qua các chế độ cụ thể. Song về tình hình chính trị - xã hội phức tạp khi đó cũng như những khó khăn về quỹ, về đối tượng tham gia và hưởng BHXH… mà pháp luật BHXH chưa được áp dụng theo nghĩa đầy đủ về m t nội dung pháp lý cũng như xã hội của nó.
Trên cơ sở các cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc gia nhập WTO về chính sách an sinh xã hội cùng với sự chín muồi về nhận thức, về điều kiện kinh tế - xã hội đất nước, nhu cầu của đời sống xã hội, ngày 20/11/2014, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật BHXH và có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Đến nay, BHXH trở thành nền tảng cơ bản của mỗi quốc gia, được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới và ngày càng phát triển. hái niệm BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất và được sử dụng trong toàn bộ nghiên cứu của luận văn là khái niệm BHXH đã được ghi trong Luật BHXH được Quốc hội nước Cộng h a xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2014 như sau: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề 9 Luan van nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội" [28]. BHXH không chỉ bao gồm việc đáp ứng những nhu cầu phát sinh khi lâm vào tình trạng khó khăn túng thiếu, mà trước hết nó nhằm ph ng ngừa những rủi ro có thể xảy ra, đồng thời giúp đỡ cho cá nhân và gia đình có được sự tự điều chỉnh tốt nhất khi họ đối m t với sự đau ốm, tàn tật và những hoàn cảnh khó khăn khác không thể ngăn ngừa được.
Vì vậy, BHXH yêu cầu không chỉ tiền m t, mà c n là những dịch vụ xã hội, dịch vụ y tế với một phạm vi rộng lớn.2 Pháp luật về bảo hiểm xã hội Bảo hiểm là một trong những phương pháp, công cụ hữu ích có vai tr quan trọng nhằm giúp con người ph ng ngừa và vượt qua được những trở ngại rủi ro trong cuộc sống. Ở Việt Nam, bảo hiểm xã hội được biết đến từ rất sớm và được xem là một trong những công cụ đắc lực trợ giúp cho người lao động trang trải khi g p những biến cố đột xuất xảy ra trong cuộc sống, bằng cách sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm trong trường hợp bị giảm ho c mất thu nhập bình quân do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động ho c khi chết. Pháp luật về BHXH là hệ thống các quy tắc xử sự bao gồm các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia BHXH tạo thành các quy phạm pháp luật về BHXH được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm thực hiện hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật, trong đó Luật BHXH là trung tâm quy định các chế độ, chính sách BHXH, quyền và trách nhiệm của NLĐ, của cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia BHXH, tổ chức BHXH, quỹ BHXH, thủ tục thực hiện BHXH và quản lý nhà nước về BHXH. - Đặc điểm của pháp luật về bảo hiểm xã hội 10 Luan van Pháp luật về BHXH chủ yếu mang tính bắt buộc và thường phát sinh trên cơ sở của quan hệ lao động.
BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước, được áp dụng cho mọi NLĐ. Tuy nhiên, BHXH lại có tính bắt buộc đối với một số đối tượng lao động nhất định và đây là một trong những đ c trưng của quan hệ pháp luật về BHXH so với các quan hệ pháp luật khác. Trong quan hệ pháp luật về BHXH, người hưởng bảo hiểm có nghĩa vụ đóng góp để hình thành Quỹ BHXH. Trong quan hệ pháp luật về BHXH, Quỹ BHXH được hình thành trên sự đóng góp của các bên tham gia BHXH.
Với tư cách là người tổ chức, thực hiện các chính sách xã hội, Nhà nước có trách nhiệm bảo trợ cho quỹ để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đã được Nhà nước quy định. Đây cũng là điều dễ lý giải bởi người có nhu cầu BHXH hoàn toàn khác so với những đối tượng được ưu đãi xã hội, và người cần cứu trợ xã hội. hi c n sức lao động, c n khả năng lao động, NLĐ tham gia quan hệ lao động, được hưởng lương và mang lại lợi nhuận cho NSDLĐ. Vì vậy, khi họ không c n khả năng lao động nữa ho c khi họ bị suy giảm khả năng lao động thì NSDLĐ phải có một phần trách nhiệm đối với họ.
Đối tượng của BHXH là người lao động nói chung, phạm vi áp dụng bảo hiểm xã hội ở nước ta đến người lao động làm công ăn lương, cán bộ, công chức và một số đối tượng khác. Nhà nước, người chủ sở hữu cao nhất đồng thời là người chủ sử dụng lao động lớn nhất, người đại diện cho toàn xã hội phải là người thống nhất quản lý toàn bộ lĩnh vực bảo hiểm xã hội. Sự thống nhất quản lý bảo hiểm xã hội thể hiện ở chỗ, trước hết, Nhà nước định ra các “chính sách xã hội”, cùng với các chính sách kinh tế, chính sách văn hóa, an ninh quốc ph ng. Đồng thời, Nhà nước ban hành hệ thống pháp luật bảo hiểm xã hội nhằm thể chế hóa các chính sách xã hội ấy.
Để thực 11 Luan van thi có hiệu quả các văn bản pháp luật, Nhà nước thành lập hệ thống các cơ quan chức năng về bảo hiểm xã hội cũng như kiểm tra việc tổ chức, thực hiện các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hôi của các cơ quan này. BHXH mang tính xã hội rộng rãi, trên nguyên tắc lấy số nhiều bù số ít. Đ c điểm “hưởng thụ theo đóng góp” trong luật bảo hiểm xã hội chính là sự cụ thể hóa “công bằng xã hội” bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống. Điều này là cần thiết, bởi vì đối với một nước đang phát triển như Việt Nam thì hưởng thụ tương ứng với đóng góp, vẫn là một điều không thể tranh khỏi.
Tuy nhiên, “hưởng thụ theo đóng góp” trong bảo hiểm xã hội không hoàn toàn giống nhau như áp dụng “phân phối theo lao động” trong luật lao động. Đ c điểm này thường được áp dụng trong việc thực hiện trợ cấp bảo hiểm xã hội đối với người lao động, cũng như ưu đãi người có công. Ở đây, mức trợ cấp cho các đối tượng căn cứ vào mức độ, thời gian đóng góp của họ vào quỹ trợ cấp (đối với bảo hiểm xã hội) ho c mức độ, thời gian cống hiến, hy sinh của họ (đối với ưu đãi xã hội). BHXH có chế độ trợ cấp đa dạng, toàn diện, ổn định.
Các nguyên nhân gây ra rủi ro rất nhiều nên nhu cầu bảo hiểm xã hội của các thành viên trong xã hội cũng rất đa dạng.