mở đầu cho việc tranh luận cụng khai, thể hiện rừ quan điểm của KSV kết luận về tội phạm, người phạm tội, tính chất của vụ án, nhân thân bị cáo, các tỡnh tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiêm hỡnh sự cho bị cỏo, nguyờn nhõn và điều kiện phạm tội, nhằm buộc tội bị cáo và đưa cỏc hỡnh thức về loại và mức hỡnh phạt về cỏc biện phỏp tư pháp và việc giải quyết các vấn đề dân sự trong vụ án hỡnh sự. Hoạt động luận tội đối với bị cáo tại phiên tũa phiờn thẩm là hoạt động thực hiện chức năng buộc tội, thể hiện quyền lực nhà nước. Lời luận tội của KSV 20 tại phiờn tũa thể hiện quan điểm chính thức về mặt pháp lí của VKSND cơ quan duy nhất được nhà nước giao chức năng thay mặt nhà nước buộc tội đối với người có hành vi phạm tội, trong việc xử lý đối với tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp: “Kiểm sát” được hiểu là việc kiểm tra và giám sát việc thực thi nhiệm vụ trên thực tế.
Xuất phát từ vị trí, vai trũ của VKSND ta thấy rằng khỏi niệm “Kiểm sỏt” luụn gắn liền với chức năng của VKSND. Công tác kiểm sát chính là phương diện, lĩnh vực hoạt động đặc biệt thuộc chức năng của nghành kiểm sát nhằm mục đích bảo đảm pháp chế XHCN. Cần khẳng định rằng hoạt động tư pháp phải do cơ quan tư pháp tiến hành. Tuy nhiên, không phải tất cả các hoạt động của cơ quan tư pháp điều được gọi là hoạt động tư pháp.
Xuất phát từ nghĩa rộng của khái niệm tư pháp, có thể hiểu hoạt động kiểm sát tư pháp là các hoạt đông liên quan đến quá trỡnh giải quyết tranh chấp nờn cú thể hiểu cụng tỏc kiểm sỏt hoạt động tư pháp là kiểm sát các hoạt động chỉ trong phạm vi hoạt động của Cơ quan điều tra (Công an), Cơ quan xét xử (Cơ quan tũa ỏn), Cơ quan thi hành án (cục thi hành án). Liên quan đến quá trỡnh giải quyết tranh chấp bao gồm cỏc hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ về tranh chấp, hoạt động khởi kiện, khởi tố, truy tố; hoặc động xét xử là thi hành án các phán quyết của Tũa ỏn trong thực tiễn. Cũng như các cơ quan Nhà nước khác, cơ quan tư pháp cũng có nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Bên cạnh kiểm sát tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án), mỗi cơ quan cũn cú lĩnh vực khỏc.
Từ việc trỡnh bày trờn cú thể đưa ra khái niệm chung về kiểm sát hoạt động tư pháp: kiểm sát hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của VKSND, có nội dung giám sát moi hoạt động của các cơ quan tư pháp trong quá trỡnh điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hỡnh sự nhằm đảm bảo cho pháp luật TTHS được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất. 21 VKSND thực hiện chức năng giám sát việc chấp hành pháp luật, các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất. Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ nên hoạt động của VKSND sẽ đảm bảo được tính chính xác, tính khách quan trong thi hành pháp luật. Kiểm sát khởi tố điều tra: VKS kiểm sỏt việc tuõn theo phỏp luật trong việc khởi tố vụ ỏn hỡnh sự đảm bảo mọi tội phạm đều được phát hiện, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội (Điều 12 Luật tổ chức VKSND năm 2002 và Điều 109 BLTTHS năm 2003).
VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật đảm bảo mọi tội phạm đều phải được phát hiện kịp thời và khởi tố điều tra. Việc khởi tố phải có căn cứ và hợp pháp tức là phải có dấu hiệu tội phạm xảy ra. Khi VKS kiểm sỏt việc khởi tố vụ ỏn hỡnh sự của cỏc cơ quan tiến hành tố tụng và có căn cứ thỡ Viện kiểm sỏt phải ra một trong các quyết định sau: Nếu quyết định của khởi tố vụ án hỡnh sự của cơ quan điều tra, Bộ đội biên phũng, Hải quõn, Kiểm lõm, lực lượng cảnh sát biển, các cơ quan khác của công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có căn cứ theo quy định tại Điều 100 BLTTHS năm 2003 thỡ VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định đó. Căn cứ vào Điều 113 BLTTHS năm 2003 và Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định VKSND khi kiểm hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra thỡ VKS cú nhiệm vụ và quyền hạn: Kiểm sát Việc khởi tố và hoạt động điều tra: Kiểm sát các hoạt động điều tra là việc lập hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra.
VKS xem xét CQĐT thực hiện các hoạt động điều tra có đúng quy định BLTTHS năm 2003 hay không. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng va người tiến hành tố tụng. Trong giai đoạn điều tra, kiểm sát các hoạt động tư pháp có nội dung giám sát mọi hoạt động của Cơ quan điều tra, các cơ quan được giao nhiệm 22 vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trỡnh điều tra vụ án nhằm đảm bảo cho việc điều tra được tiến hành theo đúng quy định pháp luật. Như vậy, VKS khi tiến hành hoạt động kiểm sát tư pháp trong giai đoạn trong giai đoạn điều tra là tất cả những quyền năng pháp lý do luật định mà VKS được sử dụng để phát hiện vi phạm của các cơ quan người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra, nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hàn nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trỡnh điều tra vụ án.
Khi tham gia tại phiờn tũa xột xử cỏc vụ ỏn hỡnh sự cựng với cụng tỏc thực hành quyền cụng tố, VKS cũn thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại Điều 18 LTCVKSND năm 2002: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tũa ỏn nhõn dõn; Kiểm sỏt tuõn theo phỏp luật của người tham gia tố tụng; Kiểm sát bản án quyết định của Tũa ỏn theo quy định của pháp luật; Yờu cầu tũa ỏn nhõn cựng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án hỡnh sự để xét xử, quyết định việc kháng nghị. Bên cạnh đó hoạt động kiểm sát xét xử các vụ án hỡnh sự cũn quy định tại Điều 10 LTCVKSND năm 2002 thỡ VKSND cú quyền khỏng nghị theo thủ tục phỳc thẩm, giỏm đốc thẩm, tái thẩm các bản án quyết định của Tũa ỏn nhõn dõn làm cơ sở để vụ án được đưa ra xét xử lại; kiến nghị với tũa ỏn nhõn dõn cựng cấp và cấp dưới khắc phục vi phạm trong việc xét xử bằng cách hủy bỏ hoặc cải sửa theo quy định của pháp luật; kiến nghị với với cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phũng ngừa tội phạm và vi phạm phỏp luật; nếu cú dấu hiệu tội phạm thỡ khởi tố về hỡnh sự. Như vậy, đối tượng để kiểm sát ở đây là hoạt động xét xử của Tũa ỏn và việc tuõn theo phỏp luật của những người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn xét xử. Từ đó, đối tượng kiểm sát VKS căn cứ quy định của BLTTHS về trỡnh tự, thủ tục trong xột xử của Tũa ỏn và việc tham gia phiờn tũa 23 của những người tham gia tố tụng để làm căn cứ cho việc kiểm sát.
Đây chính là chức năng pháp lý để thực hiện chức năng kiểm sát xử hỡnh sự của VKSND. Kiểm sỏt thi hành ỏn: Theo quy định tại Điều 23 LTCVKSND năm 2002 thỡ đối tượng của công tác kiểm sát thi hành án là: việc tuân theo pháp luật của TAND, cơ quan thi hành án. Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan trong việc thi hành bản án, quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo các bản án, quyết định đó được thực hành đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời. Thi hành án là giai đoạn kết thúc trỡnh tự tố tụng, là khõu cuối cựng kết thỳc một vụ ỏn được xét xử nhằm thực thi quyết định của TA.
Thông qua công tác kiểm sát thi hành án, VKS có trách nhiệm đảm bảo mọi bản án, quyết định được thi hành đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời. Đống thời, VKS cũn cú trỏch nhiệm đảm bảo mọi trường hợp miễn, giảm, hoón, tạm đỡnh chỉ thi hành ỏn phải cú căn cứ và đúng pháp luật hoặc bản án, quyết định của Tũa ỏn được thi hành đầy đủ, kịp thời và theo đúng pháp luật. Khi thực hiện công tác kiểm sát thi hành án, VKSND có những nhiệm vụ quyền hạn sau (Điều 24 LTCVKSND): Trong quỏ trinh thực hiện kiểm sỏt thi hành ỏn, khi phỏt hiện những vi phỏp luật trong việc thi hành ỏn, VKS ban hành khỏng nghị, kiến nghị yờu cầu khắc phục, phũng ngừa vi phạm phỏp luật và đề xuất các biện pháp xử lý. Giải quyết khiếu nại, tố cáo có liờn quan cụng tỏc kiểm sỏt thi hành ỏn.
Yêu cầu TAND, Cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới, Chấp hành viên, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án đảm bảo cho việc thi hành án đúng quy định pháp luật. Xuất phát từ việc thi hành công tác kiểm sát thi hành án bắt đầu từ khi bản án, quyết định của Tũa ỏn cú hiệu lực phỏp luật hoặc bản ỏn, quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật và kết thúc khi người bị kết án đó chấp hành xong bản ỏn và đó được xóa án tích. 24 Yêu cầu cơ quan thi hành án kiểm tra việc thi hành án, theo đó cơ quan thi hành án phải tự kiểm tra việc thi hành án không chỉ đối với những bản án, quyết định đó cú hiệu lực phỏp luật mà đối với cả bản án, quyết định thi hành ngay theo quy đinh của pháp luật. Nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành nhưng cơ quan thi hành án không áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành cũng như trong một số trường hợp khác theo quy định thỡ VKS phải cú căn cứ yêu cầu thi hành án.