đặt vấn đề quy hoạch lên hàng đầu, còn tài nguyên được sử dụng thông minh trên cơ sở tổng hợp và bền vững. Những vấn đề quản lý mà Singapore đã xem xét và xác định quan trọng nhất là: (i) Xung đột nhóm lợi ích trong việc sử dụng tài nguyên, trong đó ô nhiễm biển và suy thoái môi trường ven bờ là hai vấn đề trọng tâm của sự xung đột lợi ích sử dụng; (ii) Các vấn đề về ô nhiễm ven bờ: ô nhiễm biển, chất thải rắn, ô nhiễm không khí và sự giảm sút chất lượng cảnh quan; (iii) Tai biến thiên nhiên và tai biến do con người. Trung Quốc Hạ Môn, một thành phố của Trung Quốc, là thành phố điển hình đã áp dụng thành công việc phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển. Trước đây, vùng đới bờ Hạ Môn tập trung phát triển đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy sản, du lịch, phát triển cảng và xây dựng.
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế nhanh làm Hạ Môn phải đối mặt với các vấn đề quản lý như ô nhiễm biển, suy thoái môi trường, đánh bắt quá mức và mẫu thuẫn trong sử dụng đa mục tiêu trong khi công tác quản lý đới bờ lại theo hướng đơn ngành. Do đó, việc thiết lập chương trình quản lý tổng hợp đới bờ ra đời trên cơ sở Dự án trình diễn Hạ Môn GEF/UNDP/IMO đến nay đã trải qua 3 chu trình thực hiện theo mô hình PEMSEA theo 6 bước (chuẩn bị; khởi động; xây dựng; thông qua; thực hiện và sàng lọc, củng cố). Năm 1997, chính quyền thành phố đã ban hành quy định hành chính, thông qua Kế hoạch giảm xung đột sử dụng tài nguyên biển, tối đa hóa các lợi ích kinh tế - xã hội từ việc sử dụng tài nguyên biển và ven bờ biển, bảo vệ môi trường biển, bảo tồn đa dạng sinh học và đảm bảo phát triển bền vững các vùng biển của Hạ Môn. Vùng nước ven bờ Hạ Môn được chia thành các vùng quản lý cho phép các hoạt động phát triển (Hình 1.
Các ưu tiên triển khai phân vùng được sắp xếp trên 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cơ sở ước tính về lợi ích kinh tế - xã hội và tác động môi trường do việc sử dụng gây ra và tránh xung đột tạo ra một xã hội phát triển hài hòa. Sơ đồ phân vùng chức năng và quản lý đới bờ Hạ Môn - Trung Quốc [37] Bài học thành công của mô hình quản lý tổng hợp đới bờ ở Hạ Môn trước hết là thắng lợi của ý chí chính trị thông qua sự hỗ trợ về luật pháp, chính sách và tài chính, với sự ủng hộ của các cấp chính quyền nhằm tạo một hình mẫu tốt cho Trung Quốc và thế giới. Việc thực thi chính sách và luật pháp nghiêm minh đã tạo nên sự nhất quán và động lực thúc đẩy thực thi chương trình quản lý tổng hợp đới bờ. Sự đồng thuận của các tổ chức tham gia và của các bên có lợi ích cũng là nhân tố quan trọng đảm bảo cho sự thành công này.
Sự đồng thuận không chỉ là tự nguyện, mà còn là chế tài trong khuôn khổ của luật định. Vấn đề thuế và phí môi trường được thực hiện nghiêm chỉnh, tạo nên nguồn tài chính bền vững cho quản lý tổng hợp đới bờ, đảm bảo cho quá trình này phát triển theo hướng “tự lực - tự chủ” [35], [36]. Đông Nam Á Các nước Đông Nam Á triển khai thực hiện quản lý tổng hợp đới bờ khá muộn so với các nước Bắc Mỹ và Châu Âu, phổ biến nhất trong thời kỳ nhận được 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự tài trợ cho các dự án thí điểm từ các nước phát triển và các tổ chức trên thế giới. Trong đó, quy mô lớn nhất là các dự án điểm quản lý tổng hợp đới bờ theo hệ thống của Chương trình phối hợp quản lý môi trường các vùng biển Đông Á (PEMSEA) với sự hỗ trợ của Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) và Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) thực hiện trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI.
Những dự án điểm này được triển khai ở Shianoukville (Campuchia), Bali (Indonesia), Klang (Malaysia), Batangas (Philippine), Chonburi (Thái Lan) và Đà Nẵng (Việt Nam) [35]. Luật 22/1999 thể hiện rõ ý chí chính trị của chính phủ Indonesia là phi tập trung quản lý đới bờ và tăng cường vai trò cộng đồng trong quản lý tài nguyên. Indonesia cho rằng quản lý hành chính tập trung sẽ tạo ra chính sách môi trường áp dụng đồng nhất tại tất cả các vùng của đất nước, thiếu xem xét những vấn đề địa phương và sự đa dạng, phức tạp về kinh tế, văn hóa, xã hội và sẽ tạo ra khuôn phép nặng nề làm hạn chế khả năng suy nghĩ và sáng tạo của chính quyền và cộng đồng địa phương [34]. Đến năm 2010, Indonesia thông qua Luật quản lý vùng bờ và các đảo nhỏ.
Ở Đông Nam Á, Philippines là nước đã thực hiện nhiều nhất các dự án Quản lý tổng hợp vùng bờ. Các dự án nhận được sự hỗ trợ nhiều nhất là của chương trình khu vực GEF/UNDP/IMO/PEMSEA đã được triển khai tại Batangas, Bataan, Cavitae, vịnh Manila và Puerto Galera. Trong đó, dự án quản lý tổng hợp vùng bờ biển thực hiện trên cơ sở tự chủ - tự quản được coi là thành công hơn cả tại Batangas [32], [35]. Ngoài Indonesia thì Thái Lan cũng là nước theo hướng quản lý phi tập trung với phương thức đồng quản lý hoặc quản lý dựa vào cộng đồng.
Tuy nhiên, Malaysia lại tiếp cận quản lý đới bờ bằng thể thức tập trung hóa theo định hướng tổng hợp đã thu được nhiều kết quả tốt và cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường [34]. Như vậy, quản lý tổng hợp đới bờ là hình thức quản lý mang tính chất liên ngành, đa mục tiêu, đa lợi ích và là chìa khóa vàng cho phát triển bền vững. Ở mỗi quốc gia, quan điểm và chính sách về quản lý tổng hợp đới bờ có những nét riêng, chưa hẳn là cách quản lý tốt nhất và chủ đạo. Ở một số quốc gia, vai trò quản lý đới 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bờ phi tập trung và phát triển các mô hình chủ đạo kiểu “quản lý theo ngành”, “đồng quản lý” hay “quản lý dựa vào cộng đồng” vẫn rất được coi trọng.
Ở một vài quốc gia khác, lại đi theo con đường quản lý tập trung dựa trên những kinh nghiệm vốn có về cách thức quản lý trong phát triển nền kinh tế tập trung trước kia. Do đó, ở mỗi quốc gia, trong mỗi hoàn cảnh, quản lý tổng hợp đới bờ cũng không nên tuyệt đối hóa mà cần có sự phối hợp giữa các hình thức quản lý ở quy mô phù hợp nhất. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Tiếp cận quản lý tổng hợp đới bờ và phân vùng quản lý tổng hợp ở Việt Nam đã trải qua hơn 10 năm kể từ đề tài cấp nhà nước KHCN.07 “Nghiên cứu và xây dựng phương án quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam nhằm đảm bảo an toàn sinh thái và phát triển bền vững”, do Viện Tài nguyên và Môi trường biển chủ trì thực hiện trong thời gian 1996 - 1999 với 2 trọng điểm nghiên cứu là khu vực Đồ Sơn - Cát Bà - Hạ Long và Đà Nẵng. Kết quả của đề tài là đã xây dựng được hệ phương pháp luận quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam; xây dựng khuôn khổ hành động quản lý đới bờ Việt Nam và một bộ Atlat về đới bờ Việt Nam trong đó có các vùng thuộc đới bờ châu thổ sông Cửu Long [7].
Trong thời gian 2000 - 2002, Viện Hải dương học Nha Trang đã tiến hành nhiệm vụ nghiên cứu nhằm xây dựng phương án quản lý tổng hợp đới bờ Nam Trung Bộ với trọng điểm Bình Định theo Nghị định thư hợp tác Việt Nam - Ấn Độ [1]. Tiếp theo, một số dự án triển khai đã được tiến hành với sự hỗ trợ về chuyên gia, tài chính của một số nước và tổ chức quốc tế. Thành công nhất về mặt lý luận và thực tiễn có lẽ là dự án quản lý tổng hợp đới bờ tại Đà Nẵng, nằm trong khuôn khổ chương trình hợp tác về quản lý môi trường và các biển Đông Á (IMO/GEF/PEMSEA) giai đoạn một vào năm 2000 - 2006 và giai đoạn hai được tiếp tục từ năm 2009. Kế hoạch này hỗ trợ kế hoạch phát triển thành phố thông minh, xanh, sạch của thành phố Đà Nẵng.
Dự án được thực hiện dựa trên 15 nguyên tắc phân vùng chức năng vùng bờ và theo các bước quy định trong hướng dẫn PEMSEA [19]. Trong giai đoạn 2000 - 2006, dự án Việt 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nam - Hà Lan về quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam (VNICZM) được thực hiện ở 3 vùng trọng điểm là Nam Định, Thừa Thiên Huế và Bà Rịa - Vũng Tàu. Dự án hợp tác về quản lý tổng hợp đới bờ Hạ Long do IUCN Việt Nam, Bộ Thủy sản và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh thực hiện trong khuôn khổ hợp tác với Hoa Kỳ (NOAA) trong giai đoạn 1: 2003 - 2004 và giai đoạn 2: 2006 - 2008. Nguyễn Chu Hồi và các tác giả của dự án này đã phân đới bờ vịnh Hạ Long ra các vùng nhỏ được phép hoặc không được phép hoạt động phát triển kinh tế - xã hội hoặc bảo tồn (Hình 1.
Sơ đồ phân vùng quản lý tổng hợp ven biển vịnh Hạ Long, Quảng Ninh [8] Gần đây nhất là Dự án quản lý tổng hợp các hoạt động trên đầm phá (IMOLA) ở Tam Giang - Cầu Hai do FAO tài trợ với sự hỗ trợ của các chuyên gia Italia thực hiện từ năm 2005 và đã tiếp tục ở pha hai. Chỉ riêng dự án quản lý tổng hợp đới bờ Quảng Nam (2005 - 2007) là mô hình quản lý tổng hợp đới bờ cấp tỉnh 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lần đầu tiên do các nhà khoa học và quản lý Việt Nam xây dựng và thực hiện theo kinh nghiệm của Đà Nẵng [19]. Đề tài 17/2004/HĐ-ĐTNĐT hợp tác Việt Nam - Hoa Kỳ theo Nghị định thư “Quy hoạch và lập kế hoạch quản lý tổng hợp đới bờ vịnh Hạ Long, Quảng Ninh” do Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản (Bộ thủy sản) chủ trì, PGS.TS Nguyễn Chu Hồilàm chủ nhiệm đã đưa ra được sơ đồ phân vùng chức năng đới bờ vịnh Hạ Long và xây dựng được chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ vịnh Hạ Long [8].27/06-10 “Cơ sở khoa học và pháp lý phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam” tỷ lệ 1:500.000 do Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển bền vững chủ trì, TS.