phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận, tổng quan tình hình nghiên cứu, quan điểm tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội khu vực đới bờ Côn Đảo Chƣơng 3. Phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Côn Đảo thích ứng với biến đổi khí hậu và đề xuất các giải pháp thực thi 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN, QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Tình hình nghiên cứu về quản lý tổng hợp đới bờ a. Tình hình nghiên cứu ở Nhật Bản [58] Quốc đảo Nhật Bản với khoảng 35.000 km đƣờng bờ biển với 6. Vùng ven bờ biển có rất nhiều tài nguyên cộng với khả năng tiếp cận thị trƣờng quốc tế một cách dễ dàng thích hợp cho việc phát triển kinh tế xã hội nên nó vẫn và đang thu hút sự quan tâm của con ngƣời.
Khoảng 40 – 50 % dân số Nhật Bản sinh sống trong các thành phố ven bờ biển. Cũng chính bởi thế nên chính sách về biển và vùng bờ của Nhật Bản cũng rất đƣợc quan tâm. Những cơ sở pháp lý cho quản lý tổng hợp ở Nhật Bản: + Theo Công ƣớc của Luật biển 1982 của Liên Hợp Quốc: “Các vấn đề về khoảng không đại dƣơng có quan hệ chặt chẽ với nhau và cần thiết phải đƣợc xem xét một cách toàn diện…” + Chƣơng 17 của Chƣơng trình Nghị sự 21: “Môi trƣờng hàng hải bao gồm cả các đại dƣơng, tất cả các biển và các vùng ven bờ gần kề - hình thành lên và kết hợp là một nhân tố cần thiết của hệ thống trợ giúp cuộc sống toàn cầu và một tài sản có thực đƣa ra các cơ hội cho sự phát triển bền vững”; + Luật về đại dƣơng của Nhật Bản; + Luật về tự nhiên của Nhật Bản Mục đích của quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển (ICZM)ở Nhật Bản: Thứ nhất là bảo tồn tình trạng nguyên vẹn của sinh thái học của hệ sinh thái vùng ven bờ biển. Những hệ sinh thái nhƣ vậy tồn tại trong những điều kiện khắc nghiệt - điều kiện gió mạnh, tập trung nƣớc mặn, và sự thay đổi lớn trong điều kiện nhiệt độ không khí và nƣớc.
Tuy nhiên, trong cùng một thời gian, muối dinh dƣỡng đƣợc cung cấp từ các con sông và nguồn ánh sáng mặt trời dồi dào trong vùng nƣớc 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Quản lý tổng hợp ven bờ biển phải nhạy cảm với những sắc thái của sinh thái học hay thay đổi của hệ sinh thái vùng ven bờ biển. Thứ hai là ngăn chặn sự tăng lên những thiệt hại về vật chất và những tổn thất từ những thảm hoạ thiên nhiên nhƣ sóng thuỷ triều cao, sóng cao, gió, lũ lụt, động đất, sóng thần và xói mòn bờ biển. Thứ ba là giúp đỡ một cách thích hợp sử dụng các vùng ven bờ biển của loài ngƣời.
Sử dụng ở đây có nghĩa là việc đánh bắt cá, động vật có vỏ trên biển và rong biển, tảo biển, việc xây dựng các cảng, thiết lập các vị trí dành cho công nghiệp, xây dựng các khu dân cƣ, và gác sang một bên các khu vực dành cho giải trí. Mục đích cuối cùng là kết hợp toàn bộ những mục đích riêng rẽ trên để nỗ lực đảm bảo dành đƣợc 3 mục tiêu trên. Mục đích của ICZM là tạo ra một bờ biển thu hút, hấp dẫn, an toàn và sức sống, phong cảnh và sinh thái học. Đề án quản lý vùng ven bờ biển chính thức đầu tiên của Nhật Bản đƣợc thể hiện trong Luật biển năm 1953.
Mục tiêu của đề án này là công tác phòng chống thiên tai. Tuy nhiên đề án này đã không đƣợc soạn thảo theo quan điểm quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển. Cho đến gần đây, công tác phòng chống thiên tai vẫn là một trọng tâm chủ yếu của quản lý vùng ven bờ biển Nhật Bản. Pháp luật về quản lý ven bờ biển Nhật Bản khác với pháp luật tại Hoa Kỳ.
Ví dụ, bang California đã soạn thảo một hệ thống quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển. Hệ thống luật pháp của Nhật Bản nhƣ Đạo luật Cảng, Đạo luật Cảng đánh bắt cá,…đƣợc đặt một cách riêng biệt và bao gồm việc phát triển và sử dụng các vùng ven bờ biển của Nhật Bản. Đạo luật về các vƣờn quốc gia và Đạo luật về các biện pháp đặc biệt bảo tồn các biển nội địa Seto bao gồm cả việc bảo vệ tự nhiên. Tuy nhiên, không có luật nào phục vụ việc phối hợp tất cả các khía cạnh có liên quan của mỗi luật riêng đó.
Các luật khác nhau này dẫn đến những kết quả về trách nhiệm khác nhau bởi các cơ quan Chính phủ khác nhau. Các vùng ven bờ biển đƣợc phân ra các loại nhƣ bến cảng, cảng cho hoạt động đánh bắt cá và đất khai khoáng đất nông nghiệp. Mỗi vùng đƣợc phân loại đó đƣợc giám sát bởi một bộ khác nhau nhƣ Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thuỷ sản, và Bộ Xây dựng. Ví dụ, các khu vực bến tàu và cảng dƣới quyền quản lý của Bộ Xây Dựng; các cảng đánh bắt cá dƣới 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền quản lý của Bộ Khoa học quản lý Lâm nghiệp, Nông nghiệp và Nghề cá; và các vùng ven bờ biển khác dƣới quyền quản lý của Bộ Xây Dựng.
Để đạt đƣợc mục đích quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển thì việc thành lập các luật mới và các cơ quan hành chính là yêu cầu tiên quyết. Ở Nhật Bản, có một số lƣợng lớn các vùng ven bờ biển và xa bờ mà các quyền đánh bắt cá đã đƣợc thiết lập vì vậy có một vài vấn đề liên quan đến cạnh tranh, sự phát triển và sử dụng vùng ven bờ biển và vùng nƣớc xa bờ. Tình hình nghiên cứu ở Hoa Kỳ [58] Với lợi thế là quốc gia ven bờ biển với vùng biển rộng lớn và giàu có về tài nguyên, Hoa Kỳ đã biết khai thác các tài nguyên biển từ rất sớm để phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nƣớc. Trong lĩnh vực quản lý biển, Hoa Kỳ cũng là một trong số các quốc gia đi đầu trong chiến lƣợc quản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ.
Ngay từ khi khái niệm này còn chƣa đƣợc phổ biễn rộng rãi và chƣa đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm thì Hoa Kỳ đã ban hành Đạo luật Quản lý tổng hợp đới bờ số 6217 năm 1972. Có thể nói, đây là bƣớc đi cơ bản và quan trọng tạo cơ sở cho việc quản lý hiệu quả các vùng biển Hoa Kỳ theo ngành, lĩnh vực kết hợp với quản lý theo từng bang thuộc lãnh thổ Hoa Kỳ. Bên cạnh đạo luật chuyên biệt về quản lý tổng hợp đới bờ nhƣ đã nêu trên, vấn đề quản lý tổng hợp ven bờ của Hoa Kỳ còn đƣợc hỗ trợ bởi rất nhiều các đạo luật chuyên ngành có liên quan. Sự kết hợp và tƣơng hỗ giữa các đạo luật này tạo thành một cơ chế quản lý tổng hợp tƣơng đối hiệu quả đối với vùng biển và ven biển Hoa Kỳ.
Luật Quản lý vùng ven biển đƣợc Hoa Kỳ thông qua năm 1972 nhằm tăng cƣờng sự tham gia và phối hợp của các bên liên quan trong việc đƣa ra các chƣơng trình liên quan đến vùng ven biển và cân bằng giữa các nhóm cạnh tranh về lợi ích ở vùng ven biển. Đạo luật gồm 18 Mục từ mục 302 đến mục 319 quy định về những vấn đề sau đây: Chính sách của Nghị viện; các khái niệm về quản lý tổng hợp, ý nghĩa của việc quản lý tổng hợp, vùng nƣớc ven bờ; hoạt động năng lƣợng ven bờ của các bang; các chƣơng trình quản lý phát triển đƣợc cấp phép; quản lý hành chính trong quản lý tổng hợp đới bờ; chƣơng trình nâng cao các nguồn tài nguyên ven bờ; quỹ quản lý đới bờ; hỗ trợ kỹ thuật, có sự tham gia của cộng đồng; các báo cáo về 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quản lý đới bờ; … Nhƣ vậy, có thể thấy mặc dù ra đời sớm nhƣng Luật Quản lý tổng hợp đới bờ của Hoa Kỳ đã thể hiện ƣu điểm vƣợt trội so với luật của các quốc gia khác là Đạo luật này đã có đề cập đến vấn đề phân vùng quản lý. Trong đó, ngoài việc quản lý về mặt hành chính và chuyên môn theo các cơ quan trung ƣơng, các cơ quan quản lý ngành thì hoạt động quản lý vùng biển của Hoa Kỳ còn đƣợc phân theo từng bang, từng địa phƣơng. Đồng thời, giữa các phƣơng thức quản lý này có sự kết hợp chặt chẽ và đƣợc hỗ trợ bởi các cơ chế trung gian có thẩm quyền nhà nƣớc.
Đây là một mô hình quản lý tổng hợp tƣơng đối chặt chẽ, hiệu quả đƣợc thể hiện trong Luật quản lý tổng hợp đới bờ của Hoa Kỳ. Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc [59] - Chính sách về quản lý tổng hợp và phân vùng qu ản lý tổng hợp của Trung Quốc Để phát triển kinh tế biển và chấn hƣng nền kinh tế, năm 2003 Quốc Vụ Viện Trung Quốc đã ban hành “Cương yếu quy hoạch phát triển kinh tế biển toàn quốc” do Ủy ban phát triển và cải cách quốc gia, Cục Hải dƣơng quốc gia soạn thảo. Chính sách biển của Trung Quốc đƣợc thể hiện rất rõ trong bản Cƣơng yếu này. Trong Cƣơng yếu, phân định vùng biển là một trong những nội dung quan trọng và đặc biệt đƣợc chính quyền nơi đây quan tâm.
Việc phân vùng đƣợc thể hiện trong Cƣơng yếu nhƣ sau: + Phân chia theo các ngành nghề biển trụ cột nhƣ nghề cá, vận tải biển, dầu khí biển, ngành du lịch ven bờ biển, công nghiệp đóng tàu và ngành thuốc sinh vật biển, thúc đẩy kéo theo sự phát triển các ngành nghề biển khác. Cụ thể mục tiêu đối với các ngành nghề nhƣ sau: (+) Nghề cá: Tích cực thúc đẩy điều chỉnh mang tính chiến lƣợc cơ cấu kinh tế nghề cá và vùng cá, thúc đẩy chuyển biến phƣơng thức đánh bắt cá truyền thống sang hƣớng đánh bắt cá hiện đại, chuyển đổi mô hình đánh bắt cá số lƣợng sang chất lƣợng. Nghề đánh bắt cá biển phải từng bƣớc thực hiện chế độ đánh bắt có hạn ngạch, khống chế và giảm số lƣợng tàu đánh bắt cá vùng biển gần bờ. Ngành nuôi trồng thủy sản phải phân bổ hợp lí cải biến phƣơng thức nuôi trồng thủy sản truyền 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.