chương 1, tác giả đã xác định được sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài này, đặt ra các mục tiêu cho nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra nhằm xác định nội dung của các mục tiêu cần đạt được, các phương pháp chính sẽ sử dụng cho nghiên cứu này là nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, xác định rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như bố cục của một luận văn nghiên cứu định lượng là gồm 5 chương. Ngoài ra đề tài còn mang lại ý nghĩa thực tiễn có thể ứng dụng để nâng cao sự gắn kết của cán bộ CĐCS tại các doanh nghiệp. 6 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. TỔNG QUÁT CƠ SỞ LÝ THUYẾT a.
Khái niệm sự gắn kết với tổ chức của nhân viên Mowday et al (1979), gắn kết tổ chức là “sức mạnh tương đối của sự gắn bó chặt chẽ và để hết tâm trí của một cá nhân vào một tổ chức cụ thể”. Theo đó, sự gắn kết bao gồm sự đồng nhất, sự cố gắng và lòng trung thành. Khái niệm này nói đến mối quan hệ tích cực với tổ chức khiến họ luôn sẵn sàng đầu tư công sức để đóng góp cho sự thành công và phát triển của tổ chức. O’Reilly và Chatman (1986), gắn kết với tổ chức được định nghĩa như là trạng thái tâm lý của thành viên trong tổ chức, phản ánh mức độ cá nhân hấp thu hay chấp nhận những đặc điểm của tổ chức.
Meyer và Allen (1991), gắn kết đối với tổ chức là trạng thái tâm lý buộc chặt cá nhân vào tổ chức. Kalleberg et al (1996), gắn kết với tổ chức được định nghĩa như là sự sẵn lòng dành hết nỗ lực cho tổ chức, sự gắn bó chặt chẽ với tổ chức và tìm kiếm để duy trì mối quan hệ với tổ chức. Guest (1995), khẳng định, hành vi gắn kết của nhân viên đóng vai trò trọng tâm trong hoạt động quản trị nguồn nhân lực và là “đặc điểm mấu chốt giúp phân biệt giữa quản trị nguồn nhân lực và quản trị nhân sự truyền thống”. Legge (1995), cho rằng “sự gắn kết của nhân viên hoàn toàn khác biệt với hành vi phục tùng một cách nhẫn nhục được xem là đặc trưng của quản trị nhân sự truyền thống”.
Sự phục tùng được duy trì bởi hệ thống kiểm soát áp đặt dẫn tới sự phản ứng hơn là hành vi phản hồi tích cực và chủ động trong công việc. Ngược lại, sự gắn kết được xây dựng trên niềm tin và môi trường làm việc tin cậy lẫn nhau. Allen và Meyer (2004), gắn kết tổ chức là một trạng thái tâm lý biểu thị mối quan hệ của nhân viên với tổ chức, vì thế có mối liên hệ mật thiết đến quyết định để duy trì các thành viên trong tổ chức. 7 Tóm lại, mặc dù các quan điểm có sự diễn đạt khác nhau, nhưng tựu trung lại có thể nói gắn kết đối với tổ chức của nhân viên là trạng thái buộc chặt nhân viên vào tổ chức; phản ánh mức độ cá nhân hấp thu hay chấp nhận những đặc điểm của tổ chức; đó là sự trung thành và nỗ lực hết sức mình và năng lực để đóng góp cho tổ chức; là sự cam kết cùng tổ chức vượt qua mọi khó khăn gian khổ.
Các thành phần của sự gắn kết với tổ chức Do có sự khác nhau về cách diễn đạt khái niệm về gắn kết tổ chức, nên các thành phần của sự gắn kết với tổ chức cũng có sự khác nhau. Mowday et al (1979), gắn kết tổ chức là một khái niệm bậc 2 được đo lường bởi ba thành phần: Sự gắn bó hay sự nhất quán (Identification); Lòng trung thành (Loyalty) và Sự dấn thân (Involvement). Trong đó: - Sự gắn bó hay sự nhất quán (Identification) thể hiện niềm tin mạnh mẽ và chấp nhận mục tiêu và các giá trị của tổ chức. + Lòng trung thành (Loyalty) thể hiện sự mong muốn được duy trì lâu dài là thành viên của tổ chức.
+ Sự dấn thân (Involvement) thể hiện sự nỗ lực hết mình vì sự tồn tại và phát triển cùng tổ chức. Allen và Meyer (2004), gắn kết tổ chức là một khái niệm bậc 2 được đo lường bởi ba thành phần: Sự gắn kết vì tình cảm (Affective); Sự gắn kết vì đạo đức (Normative); Sự gắn kết để duy trì (Continuance). Trong đó: - Sự gắn kết vì tình cảm (The Affective Commitment Scale - ACS): Là cảm xúc gắn bó, mong muốn được dấn thân vào trong tổ chức. Nói cách khác đó là mong muốn là thành viên trong tổ chức.
- Sự gắn kết để duy trì (The Continuance Commitment Scale - CCS): là sự sẵn sàng nỗ lực làm việc; là nhân viên nhận thấy sẽ mất mát “chi phí” khi rời khỏi tổ chức. - Sự gắn kết vì đạo đức (The Normative Commitment Scale - NCS): Cảm thấy là như là sự bắt buộc và có nghĩa vụ gắn kết lâu dài với tổ chức. Nghĩa là, các doanh nghiệp cần cố gắng tạo được sự gắn kết tình cảm nơi nhân viên của mình, có như vậy mới đảm bảo được việc giữ chân nhân viên được lâu bền nhất. Trần Kim Dung (2009) trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của lãnh đạo và văn hóa tổ chức đến kết quả làm việc của nhân viên và lòng trung thành đối với tổ chức đã 8 đề xuất thang đo khái niệm Sự gắn kết tổ chức gồm 3 thành phần: Sự nỗ lực; Lòng trung thành và Sự tự hào.
Trong đó: - Sự nỗ lực: Là việc nhân viên nỗ lực hết mình để cống hiến nhiều hơn cho tổ chức, đồng thời sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá nhân khi cần thiết vì sự thành công của tổ chức. - Lòng trung thành: Là việc nhân viên có ý định ở lại lâu dài cùng tổ chức, mặc dù nơi khác đề nghị mức lương, thưởng tương đối hấp dẫn hơn. - Sự tự hào: Là việc nhân viên hãnh diện khi được mang trong mình màu cờ sắc áo của tổ chức; coi tổ chức như là ngôi nhà thứ hai, đồng thời cho rằng tổ chức là nơi làm việc và môi trường sống tốt nhất mà mọi người nên hướng đến. Tuy nhiên, ngay cả Allen và Meyer (2004) cũng thừa nhận rằng thang đo gắn kết vì tình cảm (The Affective Commitment Scale – ACS) là phổ biến, được đánh giá cao và được sử dụng trong nhiều nghiên cứu về sự gắn kết tổ chức.
Đây cũng chính là thang đo được Mckimon và cộng sự (2003) trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức; sự gắn kết và sự thỏa mãn công việc của nhân viên tại Đài Loan (được công bố trên tạp chí: International Journal of Business Stadies). Do đó, cũng như nhiều nghiên cứu khác như: nghiên cứu của Michelle Botterweck (2007); Trương Lâm Thị Cẩm Thụy (2014); Nguyễn Thị Phương Dung và cộng sự (2012), ., nghiên cứu này đề xuất sử dụng thang đo ACS (Affective Commitment Scale) để đo lường khái niệm văn hóa tổ chức. Nghĩa là sự gắn kết tổ chức trong nghiên cứu này là một khái niệm bậc 1. Các nhà nghiên cứu hành vi tổ chức cũng có những quan điểm khác nhau trong đo lường ý thức gắn kết tổ chức, ngay cả trong cùng một cách tiếp cận ở khía cạnh thái độ (bảng 2.1: Các quan điểm đo lường ý thức gắn kết đối với tổ chức Các tác giả Quan điểm đo lường ý thức gắn kết Đạo đức (Moral) Sự chấp nhận và đồng thuận với mục tiêu của tổ chức.
Tính toán (Calculative) Sự đồng nhất với tổ chức vì nhân viên Theo Penley và cảm thấy hài lòng với sự khích lệ vật chất khi có những đóng Gould(1988) góp cho tổchức. Thờ ơ (Alienative) Nhân viên ở lại tổ chức chỉ vì áp lực của môi trường, dù họ nhận thấy những gì họ nhận được không còn tương xứng với công sức. 9 Các tác giả Quan điểm đo lường ý thức gắn kết Sự đồng nhất (Identification): có niềm tin mạnh mẽ và chấp nhận mục tiêu và giá trị của tổ chức. Theo Mowday, Lòng trung thành (Loyalty): mong muốn một cách mạnh mẽ duy Porter và Steer trì vai trò thành viên của tổ chức.
(1979) Sự dấn thân (Involvement): dấn thân vào các hoạt động của tổ chức và luôn cố gắng tự nguyện vì tổ chức Sự phục tùng (Compliance): sự dấn thân vì những phần thưởng đặc biệt Theo O’reilly và Sự gắn bó (Identification): sự gắn bó vì mong muốn hội nhập Chatman(1986) với tổ chức. Sự nội hóa (Internalisation): sự dấn thân do có sự phù hợp, sự tương đồng giữa giá trị của cá nhân với giá trị của tổ chức Gắn kết giá trị (Value commitment): sự gắn kết để phục vụ cho Theo Angle và mục tiêu của tổ chức Perry(1981) Gắn kết duy trì (Commitment to stay) Sự gắn kết để duy trì vai trò thành viên của họ trong tổ chức Tình cảm (Affective) Cảm xúc gắn bó, đồng nhất và dấn thân vào trong tổ chức. Theo Meyer và Duy trì (Continuance) Nhân viên nhận thấy sẽ mất mát chi phí Allen(1991) khi rời khỏi tổ chức. Chuẩn mực (Normative) Cảm giác có nghĩa vụ tiếp tục công việc.
Giá trị (Value) Niềm tin và sự chấp nhận các mục tiêu và giá trị Theo Mayer và của tổ chức và sự sẵn sàng nỗ lực cho tổ chức. Schoorman Sự duy trì (continuance) Mong muốn duy trì vai trò thành viên (1998) của tổ chức. Tình cảm (Affective) mức độ mà một cá nhân gắn bó về mặt tâm lý với tổ chức thông qua những cảm giác như lòng trung thành, cảm thấy yêu mến tổ chức, nhiệt tình vì tổ chức, hài lòng và cảm thấy mình thuộc về tổ chức. Sự duy trì (Continuance) mức độ mà cá nhân cảm thấy phải gắn Jaros (1993) bó với tổ chức bởi vì họ phải mất mát quá nhiều thứ nếu rời bỏ tổ chức.
Đạo đức (Moral) mức độ mà cá nhân gắn bó về mặt tâm lý với tổchức thông qua việc tiếp thu mục tiêu, giá trị và sứ mạng của tổ chức Nguồn: Meyer & Herscovitch, 2001 2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu của Nguyễn Đoàn Xuân Châu, 2017 với đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của người lao đông tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Vũng Tàu”. Kết quả nghiên cứu của đề tài, tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu như sau: 10 Bản chất công việc: Bao gồm 7 biến quan sát đo lường vấn đề về sự thích thú của công việc, thời gian làm việc, điều kiện làm việc, sự ổn định trong công việc. Sự công nhận trong công việc: Bao gồm 4 biến quan sát đo lường đánh giá năng lực, ghi nhận góp phần vào sự phát triển của ngân hàng và sự khen ngợi của cấp trên.