Mở đầu Trình bày sự cần thiết, nguyên nhân thực hiện đề tài này, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và tóm tắt bố cục đề tài. Chương 2: Tong quan Trình bày tổng quan một số tài liệu có liên quan, tổng quan các nghiên cứu trong nước và nước ngoài, tổng quan về vấn đề nghiên cứu và tổng quan về điều kiện kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu, đánh giá các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế-xã hội cũng như thực trạng trong sản xuất của các nông hộ trồng bưởi Tân Triều tại cù lao Tân Triều, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trình bày các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu như du lịch sinh thái, hộ trồng bưởi. Trinh bày các phương pháp nghiên cứu dé thu thập va phân tích số liệu được sử dụng trong bai.
Chương 4: Kết quả va thảo luận Trình bày, tổng hợp các kết quả đạt được theo mục tiêu đã đề ra và đưa ra một số thảo luận thực tiễn dựa trên kết quả. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tóm lược lại kết quả nghiên cứu và thảo luận, đề xuất một số biện pháp nhằm áp dụng lý thuyết vào thực tiễn cũng như cải thiện một số thiếu sót gặp phải trong quá trình nghiên cứu và hướng nghiên cứu cho những nghiên cứu tiếp theo. CHƯƠNG 2 TÔNG QUAN 2. Tong quan tài liệu nghiên cứu Dé thực hiện vân dé nghiên cứu, đã có rat nhiêu dé tài, nghiên cứu, tạp chí khoa học có liên quan và được tổng hợp lại dưới đây: Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2012), đã nghiên cứu các nhân tổ ảnh hưởng đến quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồng của người dân ở tỉnh An Giang.
Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các nhân tổ ảnh hưởng đến quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồng của người dân ở tỉnh An Giang. Số liệu của nghiên cứu được thu thập từ 135 hộ gia đình (80 hộ đã tham gia và 55 hộ chưa tham gia tổ chức du lịch cộng đồng) tại hai xã Mỹ Hòa Hưng (huyện Cho Mới) và xã Châu Giang (Thi xã Tân Châu) tỉnh An Giang. Đề thực hiện nghiên cứu tác giả đã sử dụng ứng dụng mô hình hồi quy binary logistic dé xác định các nhân téanh hưởng đến quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồng của người dân ở tinh An Giang. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra 5 nhân tổảnh hưởng đến quyết định tham gia tô chức du lịch cộng đồng của người dân ở tỉnh An Giang là trình độ học vấn của chủ hộ, qui mô gia đình, thu nhập gia đình, von xã hội và nghề truyền thống.
Trong đó, nhân tố qui mô gia đình tác động mạnh nhất lên quyết định tham gia tổ chức du lịch của người dân. Từ đó, xây dựng kế hoạch phát triển hình thức tổ chức du lịch cộng đồng, góp phần nâng cao đời sống người dân, phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Nguyễn Đình Phúc và cộng sự (2016), thực hiện nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ mía nguyên liệu của các hộ trồng mía với công ty mía đường nhiệt điện Gia Lai. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập số liệu của 100 hộ nông dân trồng mía tập trung chủ yếu ở vùng mía 6 nguyên liệu huyện Phú Thiện tỉnh Gia Lai.
Ngoài ra, còn kết hợp phương pháp phân tích số liệu va dùng mô hình hồi quy Logit, dé phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ mía nguyên liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động sản xuất mía hàng năm trên dia ban tinh Gia Lai déu dem lai loi nhuận cho các nông hộ trồng mia. Mia nguyên liệu được xem là cây trồng chủ lực trong sản xuất nông nghiệp của địa phương. Năng suất và lợi nhuận mía của nông hộ có tham gia mô hình liên kết với nhà máy đường cao hơn những hộ không tham gia mô hình liên kế.
Nghiên cứu cũng đã chỉ ra 4 yếu tố có ảnh hưởng lớn đến quyết định khả năng tham gia mô hình liên kết của các hộ trồng mía gồm vốn (95,38 %), khuyến nông (94,98 %), kinh nghiệm (65,27 %), diện tích (61,09 %). Nghiên cứu các yếu tô ảnh hưởng đến quyết định việc tham gia bảo hiểm trồng lúa của hộ nông dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An của Nguyễn Duy Chinh và cộng sự (2016). Với mục tiêu xác định các yếu tố tác động đến quyết định mua bảo hiểm trồng lúa, nghiên cứu này sử dụng hồi quy Logit cho dữ liệu phỏng vấn mặt đối mặt từ một trăm hộ nông dân tại huyện Cần Đước, tinh Long An. Từ đó nghiên cứu đã phát hiện ra hành vi tham gia bảo hiểm trồng lúa bị tác động bởi các yếu tổ bao gồm: mức độ quan tâm đến bảo hiểm trồng lúa của nông dân, số người trong hộ phụ thuộc vào nghề lúa, diện tích trồng lúa, kinh nghiệm, năng suất lúa, và sự đa dạng hóa thu nhập.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện khảo sát cho thấy tỷ lệ nông dân thật sự hiểu được sản phẩm bảo hiểm trồng lúa còn ở mức thấp. Do đó, chính quyền địa phương cần tuyên truyền về BHNN một cách rộng rãi, điều chỉnh mức phí bảo hiểm đề khuyến khích nông dân tham gia, chính phủ cần tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp bảo hiểm triển khai sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp. Trần Thanh Dũng (2017), đã nghiên cứu ứng dụng mô hình hồi quy binary logistic xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia mô hình trồng nhãn kiểu mẫu. Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia mô hình trồng nhãn kiểu mẫu rất cần thiết để xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp địa phương.
Dé thực hiện nghiên cứu này tác giả đã sử dụng phương pháp thu thập số liệu của 60 quan sát mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng để đảm bảo tính chính xác và khoa học, bao gồm 30 hộ tham gia mô hình trồng nhãn kiểu mẫu và 30 hộ trồng nhãn 7 theo truyền thống chưa tham gia mô hình và sử dụng chủ yếu mô hình hồi quy Binary Logistic. Kết quả phân tích cho thấy, nông dân tham gia trồng nhãn kiểu mẫu cho hiệu quả cao hơn hộ trồng nhãn truyền thống thông qua kiểm định Ttest ở mức ý nghĩa 5%. Từ đó là phải hướng nông dân tham gia mô hình kinh tế hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm từ mọi phương tiện về mô hình trồng nhãn kiểu mẫu; góp phần vào hoạch định chiến lược nâng cao thu nhập cho nông dân. Trần Phú Ngọc và cộng sự (2017), đã thực hiện nghiên cứu các yếu tố hỗ trợ quyết định của nông dân tham gia mô hình “cánh đồng mẫu lớn” tại An Giang.
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thu thập số liệu sơ cấp thông qua việc phỏng vấn 200 nông dân trồng lúa tại 3 huyện: Châu Phú, Châu Thành và Tri Tôn của tinh An Giang. Bên cạnh đó, kết hợp với các phương pháp thống kê mô tả dé thé hiện đặc điểm của nông dân về giới tính, kinh nghiệm trồng lúa, diện tích đất canh tác và thu nhập bình quân, phương pháp đánh giá độ tin cậy thang đo, phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và phương pháp hồi quy Binary Logistic được sử dụng nhằm ước lượng quyết định của nông dân tham gia mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nông dan càng được dau tư vật tư nông nghiệp thì họ sẽ càng có quyết định tham gia mô hình. Tuy nhiên, với đặc thù nông dân ở An Giang thường thiếu vốn dé mua vật tư nông nghiệp đầu vào phục vụ sản xuất, họ thường phải mua nợ ở các cửa hàng bán vật tư nông nghiệp và phải chịu lãi suất.
Điều này làm cho chỉ phí sản xuất tăng lên, làm giảm thu nhập của nông dân. Vì vậy, đầu tư vật tư nông nghiệp đầu vào là yếu tố được nông dân đánh giá rât cao. Một nghiên cứu khác của Dương Ngọc Thành và cộng sự (2018), đã nghiên cứu đánh giá yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động hợp tác xã nông nghiệp tại tỉnh An Giang. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá yêu tố ảnh hưởng đến hiệu qua hoạt động hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) tỉnh An Giang, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trong thời gian tới.
Đề thực hiện nghiên cứu tác giả đã dùng phương pháp thu thập số liệu bao gồm 20 HTXNN và 30 thành viên của HTX, kết hợp với phương pháp thông kê mô tả, phương pháp phân tích chi phí-lợi nhuận (CRA — Costs and Returns Analysis), mô hình hồi quy tuyến tính đa biến để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất 8 kinh doanh của các HTXNN. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã nông nghiệp chưa cao, chỉ có 55% HTXNN được xếp loại mạnh, trung bình/yếu (45%). Mặt khác, cũng chỉ ra khó khăn của HTXNN là thiếu vốn, và quy mô diện tích đất do HTXNN quản lý thấp. Từ đó, cần phải có cái nhìn xa hơn về mô hình hợp tác xã kiểu mới, hoạt động theo Luật HTX và vận hành theo cơ chế thị trường.
Ngoài ra, thành viên HTX cần tích cực vận động người dân cùng tham gia vào HTXNN Trần Hoài Nam và cộng sự (2019), đã nghiên cứu đánh giá quyết định tham gia mô hình thương mại công bằng của nông hộ sản xuất cà phê tại xã Xuân Trường, thành phố Đà Lạt, tinh Lâm Đồng. Nghiên cứu nay đã sử dụng mô hình hồi quy logit với phương pháp ước lượng khả năng tối đa (maximum likelihood estimation) nhằm đánh giá quyếtđịnh tham gia mô hình thương mại công bằng của nông hộ sản xuất cà phê. Số liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 222 hộ canh tác cà phê tại xã Xuân Trường, TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, đây là khu vực đang thực hiện mô hình thương mại công bằng trong sản xuất cà phê với thương hiệu cà phê Cầu Đất.
Kết quả ước lượng cho thấy, xác suất nông hộ tham gia sản xuất cà phê theo môhình thương mại công bằng là 14,43%.