chương 1 thì “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi ở đến”. Khách du lịch nông nghiệp: Khách DLNN là những đối tượng muốn học hỏi, trải nghiệm hoạt động sản xuất nông nghiệp, thưởng thức vẻ đẹp cảnh quan nhân văn do hoạt động sản xuất nông nghiệp tạo nên. Tuy nhiên, đa số khách DLNN thuộc nhóm đối tượng nghiên cứu là chủ yếu; họ đến để tìm hiểu phương thức canh tác - sản xuất, điều kiện thích nghi của cây trồng, cách thức chăm sóc, giống cây trồng,. 13 Khách DLNN được chia thành 2 loại: - Du khách quốc tế: là người nước ngoài đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ các vùng nông thôn của nước khác.
- Du khách nội địa: là công dân của một nước đi du lịch (dưới bất kì hình thức nào) các vùng nông thôn trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. * Đặc điểm của du lịch nông nghiệp Theo các chuyên gia, có bốn thành tố để được gọi là du lịch nông nghiệp: (i) Kết hợp giữa du lịch và nông nghiệp; (ii) Thu hút du khách đến tham quan các hoạt động liên quan đến nông nghiệp; (iii) Tăng thu nhập cho nông dân; (iv) Tạo cho du khách cơ hội giải trí, hoạt động rèn luyện thể lực và tinh thần, gần gũi với thiên nhiên và trải nghiệm cuộc sống nhà nông. Việc phát triển loại hình du lịch nông nghiệp có tác dụng giúp đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ du lịch hỗn hợp cho du khách, gia tăng luồng du khách đến các vùng nông thôn; kéo dài mùa vụ du lịch trong những thời gian thấp điểm của ngành du lịch. Bên cạnh góp phần phát triển kinh tế, tạo việc làm cho người lao động, du lịch nông nghiệp còn hạn chế khuynh hướng ly hương, thúc đẩy hội nhập và xuất khẩu tại chỗ.
Tựu chung lại du lịch nông nghiệp có một số đặc điểm nổi trội như sau: - Không gian tổ chức các hoạt động du lịch nông nghiệp cho du khách là trang trại, đồng ruộng, vườn cây, rừng trồng đến cả những ao nuôi, cơ sở thuần dưỡng động, thực vật hoang dã,. hay còn được gọi là cảnh quan sinh thái nông nghiệp. Nơi dừng chân có thể là một hộ gia đình, một trang trại, một hợp tác xã hay là một doanh nghiệp nông nghiệp… - Các chủ thể tham gia tổ chức du lịch nông nghiệp có thể là chủ hộ, nhà vườn, chủ rừng, chủ trang trại, chủ cơ sở, hợp tác xã nông nghiệp, tổ hợp tác, chủ doanh nghiệp nông nghiệp. Nói cách khác, họ là nông dân và có nguồn thu nhập chính từ việc làm nông nghiệp.
- Hình thái của DLNN là một hình thức sản xuất hàng hóa nông nghiệp 14 tại chỗ rất hiệu quả và tiếp thị tận gốc về xuất xứ sản phẩm, nhất là nhu cầu tự bảo vệ sức khỏe cộng đồng trước nguy cơ ô nhiễm môi trường ngày càng tăng ở các đô thị. - Tại các điểm tham quan DLNN du khách có thể tìm hiểu, trải nghiệm các hoạt động sản xuất, chiêm ngưỡng vẻ đẹp nhân văn do hoạt động sản xuất nông nghiệp tạo nên. - DLNN sẽ giúp khách du lịch tiếp xúc với khách địa phương, góp phần giữ gìn các giá trị truyền thống nhờ việc tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp và các sản phẩm thủ công truyền thống lợi nhuận từ hoạt động du lịch để bảo toàn và phát huy nền văn hóa bản địa. - Các thiết bị cơ sở vật chất sử dụng cho DLNN khá đơn sơ nhưng mang lại cảm giác thích thú cho du khách.
- Nền tảng của DLNN là sản xuất nông nghiệp: các sản phẩm nông nghiệp và những phương thức có liên quan đến nông nghiệp được coi là nền tảng, điều kiện để hoạt động DLNN đa dạng, phong phú nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách, góp phần thúc đẩy kinh tế nông thôn. - Mô hình DLNN luôn thay đổi theo thời gian và không gian: ở mỗi địa phương khác nhau thì cho nguồn tài nguyên du lịch khác nhau, đặc biệt là đối với DLNN có nền tảng từ sản xuất nông nghiệp thì việc sử dụng mô hình nông nghiệp sẽ phụ thuộc, chi phối theo không gian và thời gian để phù hợp với thực tế của địa phương. - Không cạnh tranh với các loại hình du lịch khác: DLNN là loại hình du lịch có thể kết hợp với các loại hình du lịch khác (sinh thái, văn hóa,.), bởi các loại hình du lịch này có nét tương đồng, có thể tác động tương hỗ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. - Việc phát triển DLNN không thể riêng lẻ, mà phải kết hợp phát triển với nhiều loại hình du lịch khác.
Vậy Du lịch gắn với Nông nghiệp là gì: Đây là hoạt động Du lịch 15 được "sinh ra" từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Từ các hoạt động nông nghiệp khai thác khía cạnh du lịch. Đây dường như là một khái niệm mới bổ trợ cho khái niệm "Du lịch nông nghiệp". Một số nội dung cơ bản phát triển du lịch gắn với nông nghiệp - Xây dựng chính sách du lịch nông nghiệp: chính sách phát triển du lịch là tập hợp các chủ trương và hành động của Nhà nước để đây mạnh phát triển du lịch bằng cách tác động vào việc cung cấp và giá cả của các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng); tác động tới giá sản phẩm du lịch; tác động đến số lượng khách du lịch; tác động tới giá sản phẩm du lịch; tác động đến số lượng khách du lịch; tác động việc thay đổi tổ chức và năng lực của nguồn lực du lịch; tác động vào việc chuyển giao công nghệ du lịch…Hai vế quan trọng của chính sách là chủ trương và hành động, chủ trương tốt và hành động quyết liệt sẽ đảm bảo chính sách thành công.
Đối với tỉnh Thái Nguyên, hiện nay chính sách cho Phát triển du lịch gắn với nông nghiệp được cụ thể hóa bằng nghị quyết số 10/NQ-TU về phát triển Nông nghiệp và Đề án phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021-2025 định hướng đến năm 2030. + Chính sách về quỹ hỗ trợ phát triển du lịch: Chủ trương là khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành quỹ hỗ trợ phát triển du lịch từ các nguồn đóng góp của các chủ thể hưởng lợi từ hoạt động du lịch, nguồn đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Hành động là: Áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% đói với doanh thu đón khách du lịch quốc tế vào Việt Nam; hoàn thuế giá trị gia tăng cho du khách du lịch quốc tế khi mua hàng của Việt Nam mang ra; giảm và cho chậm nộp thuế trong cá trường hợp cần thiết; sử dụng lãi suất từ tiền ký quỹ của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế gửi ngân hàng thương mại để thành lập quỹ hỗ trợ phát triển du lịch; vận động, khai thác và tiếp nhận đóng góp cho quỹ hỗ trợ phát triển du lịch của mọi tổ chức và cá nhân tình nguyện. 16 + Chính sách về đất đai và vốn: Chủ trương là khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụng đối với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào các lĩnh vực bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch; tuyên truyền, quảng bá du lịch; phát triển nguồn nhân lực du lịch; nghiên cứu, đầu tư, xây dựng sản phẩm du lịch mới; hiện đại hóa hoạt động du lịch; xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, nhập khẩu phương tiện cao cấp phục vụ cho việc vận chuyển khách du lịch, trang thiết bị chuyên dùng hiện đại cho cơ sở lưu trú du lịch cao cấp và khu du lịch quốc gia; phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch nhưng điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, ở vùng sâu, vùng xa, nhằm sử dụng lao động, hàng hóa và dịch vụ tại chỗ, góp phần nâng cao dân trí, xóa đói, giảm nghèo.
Hành động là: giảm tiền thuê đất, ưu tiên cho cơ sở lưu trú và khu du lịch sử dụng nhiều diện tích đất cho tạo cảnh quan và bảo vệ môi trường; được cấp và cho vay tín dụng với lãi suất ưu đãi, ân hạn dài; ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển các cơ sở đào tạo du lịch đạt chuẩn. + Chính sách quảng bá xúc tiến: Đây là bước hoàn chính sản phẩm, dịch vụ du lịch bao gồm sự công phu trau chuốt sản phẩm, tìm tòi ý tưởng bán sản phẩm, là bước liên quan đến tiếp thị sản phẩm. Cụ thể, xem xét phải thêm giá trị gia tưng như thế nào vào mỗi sản phẩm, dịch vụ du lịch thì mới bán được. Ví dụ như trường hợp dịch vụ ẩm thực tại nhà người dân, bạn không thể cung cấp các món ăn y nguyên như thế , mà phải biến đổi giá trị của nó thông qua lời diễn giải như “chúng tôi đã sử dụng đặc sản trong làng để nấu ra kons ăn ngon này”, hoặc “các chị phụ nữ trong làng đã gói gém nhiều tình cảm vào món ăn này đấy” v.v, trường hợp homestay thì “Ở lại với cuộc sống nông nghiệp để trải nghiệm”…Ngoài ra, việc đại diện cộng đồng và chru hộ gia đình giải thích cho du khách bằng chính lời lẽ của mình sẽ làm ấn tượng tiếp nhận trong du khách thay đổi rất nhiều, do đó khi tập huấn bạn đừng quên truyền đạt điểm này đến người dân.
Đổi mới cả về nội dung và phương thức 17 tổ chức thực hiện quảng bá, xúc tiến du lịch. Cần đẩy mạnh phối hợp hiệu quả công – tư trong xúc tiến, quảng bá du lịch, tạo đột phá trong phương thức huy động các nguồn lực tập trung cho xúc tiến; trong đó phát huy vai trò của Hội đồng tư vấn du lịch, huy động nguồn lực từ nhiều nguồn cho quảng bá, xúc tiến du lịch. Chiến lược, chương trình, chiến dịch xúc tiến quảng bá được xây dựng và thực hiện trên cơ sở kết quả các nghiên cứu thị trường và gắn chặt với chiến lược sản phẩm – thị trường và chiến lược phát triển thương hiệu. Nội dung xúc tiến quảng bá tập trung vào điểm đến, sản phẩm và thương hiệu du lịch theo từng thị trường mục tiêu.
Thông tin xúc tiến quảng bá phải đảm bảo tin cậy, thống nhất tạo dựng được hình ảnh quốc gia trên diện rộng và hình ảnh điểm đến vùng, địa phương, doanh nghiệp và sản phẩm.