Luận văn thạc sĩ ueh phân tích các yếu tố trong công việc ảnh hưởng đến thỏa mãn cân bằng công việc gia đình của nhân viên ngân hàng trên địa bàn thành phố hồ chí minh

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn cân bằng công việc và gia đình của nhân viên ngân hàng tại TP.HCM.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2014

110
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỒNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

1.7. Bố cục của luận văn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Khái niệm thỏa mãn cân bằng công việc - gia đình

2.2. Các yếu tố yêu cầu công việc ảnh hưởng đến thoả mãn cân bằng công việc - gia đình

2.2.1. Thời gian làm việc tổ chức mong đợi (Organizational time expectations)

2.2.2. Yêu cầu về áp lực công việc (Psychological job demands)

2.2.3. Sự không ổn định nghề nghiệp (Job insecurity)

2.3. Các yếu tố nguồn lực công việc ảnh hưởng đến thỏa mãn cân bằng công việc - gia đình

2.3.1. Kiểm soát công việc (Job control)

2.3.2. Hỗ trợ tại nơi làm việc (Social support at work)

2.4. Xung đột công việc - gia đình (Negative work-to-home interference)

2.5. Mô hình nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Nghiên cứu định tính

3.2.1. Thiết kế nghiên cứu định tính

3.2.2. Kết quả nghiên cứu định tính

3.3. Nghiên cứu định lượng

3.3.1. Thiết kế mẫu nghiên cứu

3.3.2. Thiết kế bảng khảo sát

3.3.3. Thu thập dữ liệu

3.3.4. Phương pháp phân tích dữ liệu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thống kê mô tả mẫu

4.2. Đánh giá thang đo

4.2.1. Đánh giá thang đo bằng độ tin cậy Cronbach Anlpha

4.2.2. Đánh giá thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá (EFA)

4.2.2.1. Đánh giá thang đo thỏa mãn cân bằng công việc - gia đình
4.2.2.2. Đánh giá thang đo biến độc lập và biến trung gian

4.3. Kiểm định giả thuyết

4.3.1. Phân tích tương quan

4.3.2. Phân tích hồi quy

4.3.2.1. Mô hình 1 – hồi quy ảnh hưởng của biến độc lập lên biến phụ thuộc
4.3.2.2. Mô hình 2 - hồi quy ảnh hưởng của biến độc lập lên biến trung gian
4.3.2.3. Mô hình 3 - hồi quy ảnh hưởng của biến trung gian lên biến phụ thuộc
4.3.2.4. Mô hình 4 - hồi quy ảnh hưởng của biến độc lập và biến trung gian lên biến phụ thuộc

4.4. Thảo luận kết quả

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

5.1. Tóm tắt nội dung nghiên cứu

5.2. Kết quả nghiên cứu và hàm ý cho nhà quản trị

5.3. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Cân Bằng Công Việc Gia Đình Của Nhân Viên Ngân Hàng

Cân bằng công việc - gia đình là một khái niệm quan trọng trong cuộc sống hiện đại, đặc biệt là đối với nhân viên ngân hàng tại TP.HCM. Ngành ngân hàng thường xuyên phải đối mặt với áp lực công việc cao, dẫn đến việc nhiều nhân viên gặp khó khăn trong việc duy trì sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống gia đình. Theo nghiên cứu của Valcour và Hunter (2005), sự cân bằng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần mà còn tác động đến hiệu suất làm việc của nhân viên.

1.1. Khái Niệm Cân Bằng Công Việc Gia Đình

Cân bằng công việc - gia đình được hiểu là mức độ mà một cá nhân có thể tham gia vào cả hai lĩnh vực này một cách hài hòa. Theo Greenhaus và cộng sự (2003), sự thỏa mãn trong cả công việc và gia đình là yếu tố quyết định đến chất lượng cuộc sống của nhân viên.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Cân Bằng Công Việc Gia Đình

Cân bằng công việc - gia đình không chỉ giúp nhân viên cảm thấy hạnh phúc hơn mà còn tăng cường sự gắn kết với tổ chức. Nghiên cứu của Hứa Thiên Nga (2013) cho thấy rằng nhân viên có sự thỏa mãn cao trong cân bằng công việc - gia đình thường có hiệu suất làm việc tốt hơn.

II. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Cân Bằng Công Việc Gia Đình

Nhiều yếu tố trong công việc có thể ảnh hưởng đến sự thỏa mãn cân bằng công việc - gia đình của nhân viên ngân hàng. Các yếu tố này bao gồm yêu cầu công việc, áp lực công việc và sự hỗ trợ từ tổ chức. Theo nghiên cứu của Beham và Drobnic (2010), những yếu tố này có thể tạo ra xung đột giữa công việc và gia đình.

2.1. Yêu Cầu Công Việc Và Áp Lực Công Việc

Yêu cầu công việc cao và áp lực công việc lớn có thể dẫn đến tình trạng stress cho nhân viên ngân hàng. Theo Burchell và cộng sự (2002), áp lực công việc gia tăng có thể làm giảm khả năng của nhân viên trong việc quản lý thời gian cho gia đình.

2.2. Sự Hỗ Trợ Từ Tổ Chức

Sự hỗ trợ từ tổ chức có thể giúp nhân viên cảm thấy thoải mái hơn trong việc cân bằng giữa công việc và gia đình. Nghiên cứu cho thấy rằng những nhân viên nhận được sự hỗ trợ từ đồng nghiệp và cấp trên thường có mức độ thỏa mãn cao hơn trong cuộc sống cá nhân.

III. Thách Thức Trong Việc Duy Trì Cân Bằng Công Việc Gia Đình

Nhân viên ngân hàng thường phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc duy trì cân bằng công việc - gia đình. Những thách thức này bao gồm thời gian làm việc kéo dài, yêu cầu công việc cao và sự không ổn định nghề nghiệp. Theo nghiên cứu của Valcour (2007), những yếu tố này có thể dẫn đến xung đột giữa công việc và gia đình.

3.1. Thời Gian Làm Việc Kéo Dài

Thời gian làm việc kéo dài là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự mất cân bằng giữa công việc và gia đình. Nghiên cứu cho thấy rằng nhân viên ngân hàng thường phải làm việc ngoài giờ, điều này ảnh hưởng đến thời gian dành cho gia đình.

3.2. Sự Không Ổn Định Nghề Nghiệp

Sự không ổn định nghề nghiệp có thể tạo ra cảm giác lo lắng cho nhân viên, làm giảm khả năng tập trung vào công việc và gia đình. Theo nghiên cứu của Aryee và cộng sự (2005), sự không ổn định này có thể dẫn đến xung đột công việc - gia đình.

IV. Giải Pháp Để Cải Thiện Cân Bằng Công Việc Gia Đình

Để cải thiện sự thỏa mãn cân bằng công việc - gia đình, các ngân hàng cần áp dụng những chính sách hỗ trợ nhân viên. Các giải pháp này có thể bao gồm việc linh hoạt trong thời gian làm việc, cung cấp các chương trình hỗ trợ sức khỏe tâm lý và tạo ra môi trường làm việc tích cực.

4.1. Chính Sách Làm Việc Linh Hoạt

Chính sách làm việc linh hoạt cho phép nhân viên có thể điều chỉnh thời gian làm việc của mình để phù hợp với nhu cầu gia đình. Nghiên cứu cho thấy rằng những ngân hàng áp dụng chính sách này thường có nhân viên hài lòng hơn.

4.2. Chương Trình Hỗ Trợ Sức Khỏe Tâm Lý

Cung cấp chương trình hỗ trợ sức khỏe tâm lý giúp nhân viên giảm bớt căng thẳng và áp lực trong công việc. Theo nghiên cứu của Saltzstein và cộng sự (2001), những chương trình này có thể cải thiện đáng kể sự thỏa mãn trong cân bằng công việc - gia đình.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc cải thiện cân bằng công việc - gia đình không chỉ mang lại lợi ích cho nhân viên mà còn cho tổ chức. Các ngân hàng có chính sách hỗ trợ tốt thường có hiệu suất làm việc cao hơn và tỷ lệ nhân viên nghỉ việc thấp hơn.

5.1. Lợi Ích Đối Với Nhân Viên

Nhân viên có sự thỏa mãn cao trong cân bằng công việc - gia đình thường có sức khỏe tốt hơn và ít gặp phải tình trạng stress. Điều này giúp họ duy trì hiệu suất làm việc ổn định.

5.2. Lợi Ích Đối Với Tổ Chức

Các ngân hàng có chính sách hỗ trợ cân bằng công việc - gia đình thường có tỷ lệ giữ chân nhân viên cao hơn. Điều này giúp tổ chức tiết kiệm chi phí tuyển dụng và đào tạo nhân viên mới.

VI. Kết Luận Và Hướng Tương Lai

Cân bằng công việc - gia đình là một vấn đề quan trọng đối với nhân viên ngân hàng tại TP.HCM. Các ngân hàng cần chú trọng đến việc xây dựng chính sách hỗ trợ để giúp nhân viên duy trì sự thỏa mãn trong cả công việc và gia đình. Hướng tới tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến cân bằng công việc - gia đình.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu về cân bằng công việc - gia đình giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn về nhu cầu của nhân viên và từ đó đưa ra các chính sách phù hợp.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để khám phá sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn cân bằng công việc - gia đình, từ đó phát triển các giải pháp hiệu quả hơn.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh phân tích các yếu tố trong công việc ảnh hưởng đến thỏa mãn cân bằng công việc gia đình của nhân viên ngân hàng trên địa bàn thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 đã trình bày tổng quan về đề tài. Chương 2 sẽ hệ thống cơ sở lý thuyết, từ đó đưa ra những khái niệm và xây dựng các mối quan hệ cùng các giả thuyết nghiên cứu. Trong chương 2 có những phần chính sau: 1) Khái niệm Thỏa mãn cân bằng công việc - gia đình (SWFB); 2) Các yếu tố tác động đến SWFB và 3) Mô hình nghiên cứu.1 Khái niệm thỏa mãn cân bằng công việc - gia đình Cân bằng công việc - gia đình là một thuật ngữ thường được sử dụng phổ biến trong các bài viết học thuật trên thế giới, tuy nhiên việc xây dựng một định nghĩa rõ ràng thì khó có thể tìm thấy trong các bài học thuật (Frone, 2003). Nhìn chung cân bằng công việc - gia đình gắn liền với một trạng thái cân bằng hoặc một ý nghĩa tổng thể của sự thỏa mãn trong cuộc sống (Clarke và cộng sự, 2004).

Higgins và các cộng sự xác định cân bằng công việc – gia đình như một "hiện tượng tri giác đặc trưng bởi một cảm giác đã đạt được một giải pháp thỏa đáng cho những yêu cầu đa dạng của công việc và các lĩnh vực của cuộc sống" (Higgins và cộng sự, 2000, trang19). Frone (2003) cung cấp một phân loại bốn khía cạnh trong khái niệm cân bằng công việc gia đình, bao gồm các thành phần riêng biệt như sau: xung đột công việc đến gia đình, xung đột gia đình đến công việc, thuận lợi từ công việc đến gia đình, và thuận lợi từ gia đình đến công việc. Tuy nhiên, nghiên cứu thực nghiệm về việc phân loại này không cho thấy mối quan hệ giữa bốn thành phần là phù hợp với nhau (Aryee và cộng sự, 2005). Trọng tâm của bài nghiên cứu này là sự thỏa mãn cân bằng công việc - gia đình.

Sự thỏa mãn cân bằng công việc –gia đình tập trung vào nhận thức về mức độ cân bằng hơn là mức độ cân bằng chính nó (Greenhaus và các cộng sự, 2003). Thỏa mãn cân bằng công việc –gia đình, được định nghĩa là ''mức độ tổng thể của sự thỏa mãn từ việc đánh giá mức độ thành công của một cá nhân đáp ứng yêu cầu công việc và vai trò gia đình'' (Valcour, 2007, trang 1512), bao gồm cả thành phần nhận thức (ví dụ, nhận thức về cân bằng công việc gia đình) và thành phần tình cảm (ví dụ, phản ứng cảm xúc cho những nhận thức này). Như vậy theo cách mô tả này, thỏa mãn cân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 bằng công việc gia đình đo lường mức độ mà nguồn lực của một cá nhân cho phép họ đáp ứng các nhu cầu cuộc sống. Định nghĩa này hiểu sự thỏa mãn cân bằng công việc – gia đình là một cấu trúc đơn nhất, toàn diện bao gồm thành phần nhận thức và tình cảm.

Thành phần nhận thức liên quan đến việc đánh giá mức độ thành công về khả năng của một cá nhân đáp ứng những yêu cầu khác nhau của công việc và gia đình. Thành phần tình cảm kéo theo một cảm giác hay trạng thái cảm xúc tích cực từ kết quả đánh giá này. Thỏa mãn cân bằng công việc - gia đình thì khác với cấu trúc mô tả quá trình chuyển đổi (cross-domain) như xung đột công việc - gia đình, sự phong phú, hoặc thuận lợi. Trong khi cấu trúc chuyển đổi như xung đột công việc - gia đình đề cập đến sự trải qua trong một vai trò có ảnh hưởng đến chất lượng hoặc hiệu quả trong vai trò khác, thỏa mãn với sự cân bằng công việc - gia đình đề cập đến tất cả mức độ của sự mãn nguyện với cách làm thế nào để giải quyết công việc của mình và nhu cầu của gia đình (Valcour, 2007).

Trong khi phần lớn các nghiên cứu trước đánh giá sự thỏa mãn cân bằng công việc - gia đình với một thang đo duy nhất (ví dụ như Clarke và cộng sự 2004; Saltzstein và cộng sự, 2001), Valcour (2007) phát triển một thang đo đa biến cho khái niệm này và một kiểm định thực nghiệm ban đầu cho thấy sự nhất quán nội bộ của các biến này. Qua các cuộc hội thảo về đề tài thỏa mãn cân bằng công việc - gia đình tổ chức ở Việt Nam, nhiều quan điểm cho rằng, đạt được cân bằng hay không tùy thuộc vào suy nghĩ cũng như mục tiêu của mỗi cá nhân. Do đó trong nghiên cứu này tác giả sử dụng định nghĩa của Valcour (2007). Ngoài ra định nghĩa này cũng được sử dụng trong nhiều bài nghiên cứu trên thế giới (ví dụ như Beham và Drobnic, 2010; Omar, 2010; Omar 2013, N.2 Các yếu tố yêu cầu công việc ảnh hưởng đến thoả mãn cân bằng công việc - gia đình Dựa theo mô hình lý thuyết yêu cầu – nguồn lực, yêu cầu công việc được định nghĩa là "các khía cạnh thể chất, xã hội, hoặc tổ chức của một công việc mà đòi hỏi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nhân viên phải duy trì nỗ lực về thể chất hoặc tinh thần, và do đó được kết hợp với một số chi phí sinh lý và tâm lý" (Demerouti và cộng sự, 2001, trang 501).

Cách tiếp cận này đã tạo ra tiếng vang lớn trong lý thuyết áp lực về vai trò (Goode, 1960), theo đó các cá nhân có một số lượng hữu hạn nguồn lực sẵn có mà có thể dành hết cho nhiều vai trò trong cuộc sống. Thời gian hoặc năng lượng dành cho một vai trò (ví dụ như công việc) thì không có sẵn dành cho vai trò khác (ví dụ như gia đình). Voydanoff (2005a) phân biệt hai loại yêu cầu công việc: yêu cầu dựa trên yếu tố thời gian và yêu cầu dựa trên yếu tố sự căng thẳng. Trong đó, yêu cầu công việc dựa trên yếu tố thời gian có liên quan đến kết quả tiêu cực giữa công việc gia đình thông qua quá trình cạn kiệt hoặc khan hiếm nguồn lực, yêu cầu công việc dựa trên yếu tố sự căng thẳng thông qua quá trình lan toả tâm lý giữa các lĩnh vực.

Yêu cầu công việc dựa trên yếu tố thời gian bao gồm thời gian làm việc dài, làm việc ngoài giờ, và thời gian làm việc mong đợi của tổ chức.Yêu cầu công việc dựa trên yếu tố căng thẳng như tình trạng công việc quá tải, áp lực công việc, căng thẳng công việc hoặc nghề nghiệp không ổn định. Một số nghiên cứu phát hiện rằng yêu cầu công việc càng cao có liên quan đến mức độ cao hơn xung đột công việc - gia đình và mức độ thấp hơn cân bằng công việc - gia đình ( Frone và cộng sự, 1997; Major và cộng sự, 2002; Valcour, 2007; Voydanoff, 2005a, b). Hầu hết tại các ngân hàng đều quy định số giờ làm việc mỗi ngày là 8 giờ và một tuần làm việc 5,5 ngày, tuy nhiên các nhà quản lý vẫn mong muốn nhân viên của mình dành nhiều thời gian hơn số thời gian quy định để cống hiến cho tổ chức. Ngoài ra công việc trong lĩnh vực ngân hàng phải chịu nhiều áp lực cũng như sự ổn định nghề nghiệp còn phụ thuộc cả yếu tố khách quan của thị trường kinh tế nên nghiên cứu này tiến hành nghiên cứu mối quan hệ ba khía cạnh khác nhau trong yêu cầu công việc: thời gian làm việc tổ chức mong đợi, áp lực công việc, và sự không ổn định nghề nghiệp ảnh hưởng đến sự thỏa mãn cân bằng công việc - gia đình.1 Thời gian làm việc tổ chức mong đợi (Organizational time expectations) Một chủ đề nổi bật trong nghiên cứu về công việc gia đình là yêu cầu về thời gian làm việc cho tổ chức và giờ làm việc kéo dài có ảnh hưởng tiêu cực đến khả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 năng cân bằng hiệu quả giữa công việc và cuộc sống của người lao động (ví dụ như Spector và cộng sự, 2007; Voydanoff, 2005b).

Ngay cả khi yêu cầu vai trò công việc không nặng nề, không khó khăn (Goode, 1960) nó cũng có thể xung đột với vai trò gia đình. Đặc biệt giờ làm việc dài và làm việc ngoài giờ, có thể làm giảm thời gian dành cho cuộc sống gia đình, cá nhân và do đó làm cho nhân viên thực hiện nghĩa vụ gia đình một cách khó khăn (Tenbrunsel và cộng sự, 1995). Coser (1974) (trích trong Beham và Drobnic, 2010) mô tả công việc và gia đình là "các tổ chức tham lam" (greedy institutions), đòi hỏi các cá nhân tham gia vào chúng càng nhiều càng tốt. Kết quả được tìm thấy là những người làm việc nhiều giờ thì thường trải qua xung đột giữa công việc và gia đình (ví dụ Major và cộng sự, 2002; Voydanoff, 2005b) và ít thỏa mãn với sự cân bằng công việc - gia đình (Valcour, 2007; Beham và Drobnic, 2010).

Trong khi Valcour (2007) nghiên cứu mối quan hệ giữa thời gian làm việc thực tế và sự thỏa mãn cân bằng công việc - gia đình, nghiên cứu này xem xét vai trò yếu tố thời gian của nhận thức cá nhân. Thời gian làm việc tổ chức mong đợi là tiêu chuẩn của tổ chức về số giờ mà nhân viên dự kiến sẽ làm và họ nên sử dụng thời gian như thế nào. Cấu trúc này khác với người tham công tiếc việc (workaholism) trong đó đề cập đến một số lượng đáng kể về thời gian thực tế, tự nguyện, và phân bổ ổn định để thực hiện các hoạt động liên quan (Harpaz và Snir, 2003). Kỳ vọng thời gian làm việc tổ chức bao gồm mức độ nhận thức người lao động mà tổ chức kỳ vọng họ ưu tiên công việc trước trách nhiệm gia đình.

Các kỳ vọng này tạo thành một phần quan trọng của văn hóa công việc -gia đình của một tổ chức và có sự thay đổi đáng kể giữa các tổ chức khác nhau (Thompson và cộng sự, 1999). Các kỳ vọng thời gian làm việc tổ chức cao có liên quan đến sự trải qua các cuộc xung đột giữa công việc và gia đình (Beauregard, 2005; Thompson và cộng sự, 1999) và cản trở nhân viên trong việc cân bằng công việc và cuộc sống gia đình (Beham và Drobnic,2010). Phù hợp với những phát hiện này, tác giả đưa ra giả thuyết: H1: Thời gian làm việc tổ chức mong đợi ảnh hưởng ngược chiều đến thỏa mãn cân bằng công việc - gia đình LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Yêu cầu về áp lực công việc (Psychological job demands) Yêu cầu về áp lực công việc đề cập đến những căng thẳng có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ công việc và hoàn thành khối lượng công việc (Karasek và cộng sự, 1998).Ví dụ khối lượng công việc nhiều hoặc các yêu cầu công việc mâu thuẫn nhau có thể tạo ra căng thẳng, ảnh hưởng lên cuộc sống gia đình và sự can thiệp công việc vào cuộc sống gia đình tăng lên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ