phần mở đầu, mục lục, danh mục bảng biểu và sơ đồ, danh mục tài liệu tham khảo thì khóa luận tốt nghiệp đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về vốn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng sử dụng vốn hoạt động kinh doanh hiện nay của các công ty bất động sản trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE). Chƣơng 3: Giải pháp đáp ứng nhu cầu vốn hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VỐN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1.
Khái quát về vốn hoạt động kinh doanh 1. Khái niệm Vốn là yếu tố đầu tiên để cho các doanh nghiệp hoạt động vì để doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thì cần phải có một lƣợng vốn nhất định. Có rất nhiều khái niệm, quan điểm về vốn kinh doanh của doanh nghiệp nhƣ sau: Vốn kinh doanh là biểu hiện dƣới hình thức tiền tệ toàn bộ các tài sản mà doanh nghiệp sử dụng, huy động vào hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc chi làm 2 loại là vốn cố định (VCĐ) và vốn lƣu động (VLĐ).
Theo quan điểm của Mark - dƣới góc độ của các yếu tố sản xuất thì Mark nhận định “Vốn chính là tƣ bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dƣ, là một đầu vào của quá trình sản xuất”. Mặc dù vậy điểm hạn chế trong nhận định này đó là việc Mark cho rằng chỉ có khu vực vật chất sản xuất ra mới tạo ra giá trị thặng dƣ cho nền kinh tế. Đối với Paul A.Samuelson thì lại nhận định “Đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hoá vốn là yếu tố kết quả của quá trình sản xuất. Vốn bao gồm các loại hàng hoá lâu bền đƣợc sản xuất ra và đƣợc sử dụng nhƣ các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó”.
Ông cũng cho rằng “Vốn là hàng hóa đƣợc sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiêp”. Đặc điểm Vốn là giá trị thực của tất cả tài sản mà doanh nghiệp đầu tƣ và phát triển trong quá trình sản xuất kinh doanh với mục đích tạo ra giá trị thặng dƣ bao gồm tài sản hữu hình (máy móc, nhà xƣởng, thiết bị,.), tài sản vô hình (thƣơng hiệu, bản quyền, phát minh, sáng chế,…) Trong quá trình sản xuất kinh doanh thì vốn luôn luôn tồn tại và liên tục chuyển hóa từ hình thƣc này sang hình thức khác: từ nguyên phụ liệu đầu vào đến các chi phí 7 sản xuất dở dang, chi phí bán thành phẩm, thành phẩm và cuối cùng thì vốn vẫn sẽ quay lại hình thƣc tiền tệ. Tuy nhiên tiền tệ chỉ đƣợc gọi là vốn khi phục vụ cho sản xuất kinh doanh nhằm sinh lời. Vốn đƣợc tập trung và tích lũy đến một ngƣỡng nhất định mới có thể mang đi cho hoạt đồng đầu tƣ sản xuất kinh doanh.
Vì vậy nên ngoài số vốn sẵn có các doanh nghiệp thƣờng sử dụng nhiều hình thức để huy động vốn. Vốn không tách rời với quyền sở hữu. Việc nhận định và hoạch định cơ cấu nợ - vốn chủ sở hữu luôn là một vấn đề quan trọng và phức tạp trong quản lý tài chính doanh nghiệp. Hiện nay, vốn đƣợc xem là một loại hàng hóa đặc biệt do có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng.
Trong thời điểm hiện tại nhiều doanh nghiệp đang tìm hiểu và sử dụng một cách linh hoạt nhiều hình thức huy động vốn nhƣ: phát hành cổ phiếu, trái phiếu; tín dụng thƣơng mại; vay ngân hàng. Chính vì vậy việc quản lý vốn chặt chẽ cũng nhƣ sử dụng vốn sao cho có hiệu quả cũng nhƣ hạn chế lãng phí phải đƣợc cải thiện và nâng cao bởi lẽ các vấn đề liên quan tới vốn sẽ gây ảnh hƣởng trực tiếp đến lợi ích của doanh nghiệp. Vốn có giá trị về mặt thời gian hay nói cách khác tại các thời điểm khác nhau do các vấn đề về giá cả, lạm phát,… ảnh hƣởng đến sức mua của đồng tiền có sự thay đổi thì vốn cũng có giá trị khác nhau. Đặc trưng Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là số tiền ứng trƣớc cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Tất nhiên muốn có đƣợc lƣợng vốn đó, các doanh nghiệp phải chủ động khai thác, thu hút vốn trên thị trƣờng. Mục đích vận động của tiền vốn là sinh lời. Nghĩa là vốn ứng trƣớc cho hoạt động sản xuất - kinh doanh phải đƣợc thu hồi về sau mỗi chu kỳ sản xuất, tiền vốn thu hồi về phải lớn hơn số vốn đã bỏ ra. Phân loại vốn kinh doanh 1.
Căn cứ vào nguồn hình thành 8 Dựa vào nguồn hình thành thì vốn kinh doanh đƣợc chia thành vốn chủ sở hữu (VCSH) và vốn vay: Thứ nhất, VCSH là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ quyền chiếm hữu chi phối và định đọat. VCSH có nhiều nguồn hình thành: do nhà nƣớc cấp, do doanh nghiệp bỏ ra hoặc do góp vốn cổ phần, bổ sung từ lợi nhuận giữ lại, phần vốn từ phát hành cổ phiếu mới Thứ hai, vốn vay: là số vốn đƣợc hình thành khi doanh nghiệp đi vay, đi chiếm dụng vốn của các đơn vị, tổ chức, cá nhân khác nhằm đáp ứng nguồn vốn bị thiếu hụt. Doanh nghiệp đƣợc phép sử dụng vốn vay để thực hiện hoạt động tổ chức kinh doanh nhƣng sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp phải hoàn trả vốn vay và lãi ứng với phần vốn đi vay. Vốn vay bao gồm vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn.
Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển vốn Nguồn vốn thƣờng xuyên: Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng trong thời gian dài, bao gồm: nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn. Nguồn vốn này thƣờng đƣợc sử dụng để đầu tƣ tài sản cố định (TSCĐ) và một bộ phận tài sản lƣu động (TSLĐ) thƣờng xuyên, cần thiết. Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dƣới 1 năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời, bất thƣờng phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp. Cách phân loại này giúp cho ngƣời quản lý doanh nghiệp xem xét huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, lập kế hoạch tài chính và hình thành những dự định về tổ chức vốn một trong tƣơng lai.
Căn cứ vào phạm vi huy động vốn: Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động đƣợc từ bản thân doanh nghiệp bao gồm: tiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận để lại, các khoản dự phòng, thu từ thanh lý, nhƣợng bán TSCĐ. 9 Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài gồm: vốn vay ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác, vốn liên doanh liên kết, vốn huy động từ phát hành trái phiếu, nợ ngƣời cung cấp và các khoản nợ khác. Quản lý và sử dụng vốn kinh doanh 1. Quản lí vốn lƣu động Thứ nhất, Quản lý vốn tiền mặt và các loại chứng khoán thanh khoản cao: Tiền mặt của doanh nghiệp mà cụ thể ở đây là quỹ tiền mặt và quỹ tiền gửi ngân hàng cần đƣợc quản lý một các chặt chẽ.
Việc quản lý các quỹ này cũng liên quan đến việc quản lý các tài sản gắn với tiền mặt nhƣ các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao. Quản lý vốn tiền mặt và các loại chứng khoán thanh khoản cao nhằm giúp doanh nghiệp giảm thiểu lƣợng tiền mặt một cách tối đa bằng cách sử dụng tính hữu dụng của nó một cách hiệu quả, trong đó thì chứng khoán có tính thanh khoản cao đƣợc sử dụng để giảm thiểu lƣợng tiền mặt ở mức độ mong muốn. Doanh nghiệp cần thực hiện các việc nhƣ: nâng cao việc thu hồi tiền; giảm bớt việc chi tiêu tiền; xây dựng kế hoạch nhu cầu về tiền; sử dụng các khoản tiền nhàn rỗi vào các việc đầu tƣ ngắn hạn, đầu tƣ tạm thời. Thứ hai, Quản lý hàng lƣu kho: Vật tƣ hàng hóa dự trữ lƣu kho là việc tất yếu xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Các hàng hóa này có thể là nguyên vật liệu, vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất, sản phẩm dở dang và thành phẩm. Trên thị trƣờng hiện nay thì doanh nghiệp không thể nào sản xuất tới sản phẩm nào thì mới mua nguyên phụ liệu cho sản phẩm đó mà phải có nguồn dự trữ nhất định. Việc dự trữ này không trực tiếp mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp nhƣng là một việc quan trọng để cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc diễn ra một cách bình thƣờng. Khi đó mỗi doanh nghiệp luôn phải đối mặt với một vấn đề đó là nếu dự trữ quá nhiều thì dễ gây ứ đọng vốn, tốn kém các chi phí đi kèm nhƣng nếu dự trữ quá ít thì quá trình sản xuất kinh doanh sẽ có khả năng bị gián đoạn, việc gián đoạn có thể ảnh hƣởng đến tiến độ 10 kế hoạch của doanh nghiệp khiến doanh nghiệp mất điểm với khách hàng từ đó ảnh hƣởng đến lợi nhuận của công ty trong tƣơng lai.
Thứ ba, Quản lý các khoản phải thu: Nhƣ đã trình bày ở trên thì ở thị trƣờng hiện nay tín dụng thƣơng mại là việc chắc chắn sẽ xảy ra với mỗi doanh nghiệp. Điều này có thể làm cho doanh nghiệp xây dựng đƣợc hình ảnh của mình với khách hàng nhƣng cũng tiềm ẩn các rủi ro đến quá trình sản xuất kinh doanh. Việc doanh nghiệp cấp tín dụng thƣơng mại cho một khách hàng nào đó cần đƣợc xem xét kĩ càng, các điều kiện trong hợp đồng phải phù hợp với hoàn cảnh của doanh nghiệp. Đồng thời doanh nghiệp chỉ nên cấp tín dụng thƣơng mại cho khách hàng khi đảm bảo rằng khách hàng có đủ khả năng thanh toán.
Để phòng tránh rủi ro không thu đƣợc tiền doanh nghiệp phải theo dõi sát sao các khoản mua chịu để kịp thời thay đổi cũng nhƣ có những điều chỉnh phù hợp , xem xét số dƣ các khoản phải thu và có biện pháp thu hồi nợ khi đến hạn. Quản lí vốn cố định Quản lý vốn cố định mà cụ thể ở đây là quản lý quỹ khấu hao TSCĐ và quản lý nguồn vốn dài hạn. TSCĐ bị hao mồn dần trong quá trình sản xuất, việc hao mòn này bao gồm hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình. Hao mòn hữu hình là hao mòn do sử dụng và tác động của môi trƣờng.