CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁT HÀNH VÀ QUẢN LÝ THẺ TẠI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VIỆT – NGA. Mô hình tổ chức và quản lý của ngân hàng liên doanh Việt – Nga 1. Lịch sử hình thành và phát triển: Ngân hàng liên doanh Việt – Nga, tên tiếng Anh: Vietnam – Russia Joint Venture Bank (VRB), được thành lập và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 19/11/2006, là liên doanh giữa hai ngân hàng hàng đầu của Việt Nam và Liên bang Nga: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng VTB (trước là Ngân hàng Ngoại thương Nga Vneshtorgbank). Mức góp vốn điều lệ của hai ngân hàng là ngang nhau.
VRB đã phát triển ổn định, hiệu quả và kinh doanh có lãi liên tục trong gần 7 năm hoạt động. Vốn điều lệ của VRB đã tăng từ 10 triệu USD khi mới thành lập lên 30 triệu USD năm 2007, 62.5 triệu USD (tương đương 3 nghìn tỷ đồng Việt Nam) vào đầu năm 2011. Tổng tài sản của ngân hàng tại thời điểm 31/12/2010 đạt trên 590 triệu USD. Đến thời điểm 31/12/2010, tổng nguồn vốn huy động của VRB đạt xấp xỉ 480 triệu USD.
Dư nợ tín dụng đạt trên 330 triệu USD vào cuối năm 2010. VRB hiện có trên 25.000 khách hàng, trong đó có 1.400 khách hàng doanh nghiệp, hơn 200 khách hàng là các cơ quan đại diện và doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh nhiệm vụ phục vụ các dự án hợp tác kinh tế liên Chính phủ, VRB còn cung cấp dịch vụ thanh toán, tín dụng cho các doanh nghiệp, thực hiện chương trình hợp tác toàn diện về đầu tư, thương mại Việt – Nga thông qua nhiều hoạt động như: thiết lập kênh thanh toán RUB/VND với thị trường Nga; hỗ trợ các doanh nghiệp Nga xúc tiến hoạt động tại Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nga; chủ động phối hợp triển khai và tích cực tham gia các chương trình hỗ trợ xuất khẩu và đầu tư song phương. Mô hình tổ chức: Hình 1.1: Mô hình tổ chức của ngân hàng Liên doanh Việt - Nga 5 Hiện nay, VRB có 6 Chi nhánh, Sở giao dịch ở các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước, bao gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh; có Văn phòng đại diện và Ngân hàng 100% thuộc sở hữu vốn của VRB tại Liên bang Nga.
Trong cơ cấu tổ chức của VRB, Trung tâm thẻ được đặt tại Hội sở chính và thực hiện các nhiệm vụ sau: Phụ trách hoạt động hệ thống thẻ. Quản lý, theo dõi toàn bộ các giao dịch phát sinh trong toàn hệ thống. Nghiên cứu, thiết kế và phát triển các sản phẩm thẻ đáp ứng yêu cầu khách hàng. Xử lý khiếu nại phát sinh trong quá trình sử dụng, thanh toán thẻ của khách hàng cũng như hỗ trợ nghiệp vụ theo đề nghị từ các chi nhánh.
Trung tâm thẻ bao gồm 4 bộ phận, có vai trò và đảm nhiệm các hoạt động khác nhau: Hình 1.2: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm thẻ - Hội sở chính 6 Bộ phận phát triển sản phẩm có nhiệm vụ: - Đề xuất các sản phẩm thẻ. - Theo dõi tình hình phát triển các sản phẩm thẻ. - Tổng hợp số liệu, đề xuất chỉ tiêu, đưa ra giải pháp kinh doanh thẻ. - Trực tiếp phát triển mạng lưới thẻ.
Bộ phận kĩ thuật: - Thực hiện phát hành các sản phẩm thẻ theo yêu cầu của khách hàng. - Đảm bảo duy trì vận hành hệ thống thẻ. - Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hệ thống. Bộ phận quản lý rủi ro: - Xử lý khiếu nại.
- Theo dõi dư nợ, nợ xấu. - Đề xuất giảm thiểu rủi ro cho các sản phẩm thẻ. Bộ phận thanh toán kế toán: - Hoạch toán thẻ. - Kiểm tra, đối chiếu giao dịch.
- Tổng hợp thông tin doanh số. - Tiến hành và theo dõi thu, chi tại Trung tâm thẻ. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Ngân hàng VRB luôn chú trọng đầu tư, phát triển hạ tầng kỹ thuật và công nghệ ngân hàng hiện đại thông qua việc hoàn thành chuyển đổi hệ thống phần mềm Corebanking mới (Core – Flexcube); phát hành thẻ thanh toán nội địa, thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng quốc tế VISA. Công nghệ hiện đại đã tạo điều kiện cho VRB phát triển sản phẩm, hoàn thành tự động hoá, điện tử hoá các giao dịch và hệ thống quản trị điều hành.
Hiện nay, VRB đang cài đặt và sử dụng phần mềm Core Flexcube – Ocracle Flexcube Corebanking, có rất nhiều ưu điểm: các tiến trình xử lý xuyên suốt, phương pháp xử lý các ngoại lệ một cách thông minh, khả năng tích hợp các hệ thống khác bao 7 gồm các phần mềm nội bộ của ngân hàng để đáp ứng các nhu cầu nghiệp vụ từ đơn giản đến phức tạp, tạo ra cơ sở dữ liệu tập trung cho toàn hệ thống ngân hàng, giảm thiểu vấn đề thông tin rải rác và chuyển giao tốn kém. Khi đầu tư vào Corebanking, tính bảo mật thông tin cao hơn, hạch toán sổ sách chứng từ kế toán thuận tiện hơn, quản lý nội bộ chặt chẽ và hiệu quả hơn. Giờ đây, khách hàng chỉ cần có một mã duy nhất ở ngân hàng là có thể giao dịch với rất nhiều sản phẩm, và ở bất cứ điểm giao dịch nào trong cùng hoặc không trong cùng một hệ thống. Tuy nhiên, việc triển khai Corebanking hay việc hiện đại hóa ngân hàng còn có không ít khó khăn.
Ngoài việc đòi hỏi một lượng vốn lớn để đầu tư triển khai Core banking thì còn nhiều nhân tố khác như thiết kế cơ sở dữ liệu, xây dựng hệ thống module hợp lý…. Trên thực tế, phần mềm Corebanking tại nhiều ngân hàng trong nước, trong đó có VRB vẫn còn nhiều sai sót do sự thiếu đồng bộ của cơ sở dữ liệu. Không chỉ vậy, phần mềm còn tích hợp một số module mà ngân hàng không sử dụng đến, gây lãng phí tài nguyên, giảm hiệu quả các hoạt động chính trong đó có nghiệp vụ quản lý thẻ. Hoạt động phát hành và quản lý thẻ tại ngân hàng và các vấn đề đặt ra 1.
Những vấn đề chung về thẻ, hoạt động phát hành và thanh toán thẻ: Thẻ ngân hàng (Bank Card), hay còn gọi là tiền nhựa (Plastic Money), là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính phát hành và cung cấp cho khách hàng (được gọi là chủ thẻ) dùng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ. Do đặc điểm dùng thẻ để thanh toán nên thẻ ngân hàng còn được gọi là thẻ thanh toán. Xét theo tính chất thanh toán của thẻ, thẻ ngân hàng được chia làm 3 loại cơ bản: Thẻ tín dụng: Là loại thẻ được sử dụng khá phổ biến. Thẻ tín dụng thường do ngân hàng phát hành và quy định một hạn mức tín dụng nhất định trên cơ sở khả 8 năng tài chính, tài sản thế chấp của chủ thẻ.
Chủ thẻ chỉ được phép chi tiêu trong phạm vi hạn mức đã cho và phải thanh toán cho ngân hàng phát hành thẻ theo kì hạn hàng tháng. Thẻ ghi nợ: Gắn liền với tài khoản tiền gửi của chủ thẻ. Để sử dụng loại thẻ này, khách hàng cần có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng phát hành. Những giao dịch được thực hiện bằng thẻ này sẽ được khấu trừ vào tài khoản của chủ thẻ và ghi có vào tài khoản của đơn vị chấp nhận thẻ.
Hiện nay, với công nghệ ngân hàng hiện đại, thẻ ghi nợ chủ yếu ở dạng thẻ on-line, tức là những thông tin về giao dịch được kết nối trực tiếp từ thiết bị điện tử (POS/EDC) đặt tại đơn vị chấp nhận thẻ hoặc điểm rút tiền mặt tại ngân hàng phát hành. Giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ. Thẻ rút tiền mặt: Thẻ này chỉ được dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng, các máy rút tiền tự động ATM và các dịch vụ khác do ATM cung cấp. Với chức năng chỉ dùng để rút tiền mặt, số tiền rút ra mỗi lần sẽ được trừ dần vào số tiền kí quỹ của chủ thẻ.
Các chủ thể tham gia vào nghiệp vụ phát hành thẻ bao gồm: chủ thẻ và ngân hàng phát hành thẻ. Trong đó, vai trò quan trọng thuộc về Trung tâm thẻ và các chi nhánh tiếp nhận yêu cầu. Các chủ thể tham gia vào nghiệp vụ thanh toán thẻ bao gồm: Tổ chức thẻ quốc tế: là tổ chức đứng ra liên kết các thành viên, đặt ra các quy định bắt buộc đối với các thành viên phải áp dụng và tuân theo. Bất kì ngân hàng nào hiện nay hoạt động trong lĩnh vực thẻ thanh toán quốc tế đều phải gia nhập một ít nhất một tổ chức thẻ quốc tế.
Ngân hàng phát hành thẻ: là thành viên chính thức của tổ chức thẻ và được phép phát hành thẻ, có trách nhiệm phát hành thẻ cho khách hàng, mở và quản lý tài khoản thẻ và thanh toán số tiền khách hàng phải trả cho người bán bằng thẻ. 9 Ngân hàng thanh toán thẻ: là thành viên chính thức hoặc liên kết của tổ chức thẻ được ngân hàng phát hành thẻ ủy quyền thực hiện nghiệp vụ thanh toán thẻ. Ngân hàng thanh toán thẻ có thể đồng thời hoặc không đồng thời là ngân hàng phát hành thẻ cho chủ thẻ. Chủ thẻ: người có tên trên thẻ và có quyền sử dụng thẻ thanh toán.
Đơn vị chấp nhận thẻ: là các đơn vị bán hàng hóa dịch vụ hoặc ứng tiền mặt, có kí kết hợp đồng với ngân hàng thanh toán thẻ như: khách sạn, cửa hàng, nhà hàng, siêu thị… Các đơn vị này được ngân hàng thanh toán thẻ trang bị máy móc kĩ thuật để tiếp nhận thẻ. Thông thường, đơn vị chấp nhận thẻ phải trả một khoản phí cho ngân hàng thanh toán thẻ để được sử dụng tiện ích này. Thực trạng hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại ngân hàng: Dịch vụ thẻ thanh toán đã được VRB triển khai ngay từ những ngày đầu hoạt động. Bao gồm các sản phẩm thẻ nội địa và quốc tế: Thẻ ghi nợ nội địa (VRB ATM Card): Chủ thẻ có thể giao dịch được trên hệ thống ATM, POS của 43 ngân hàng thuộc liên minh mạng Banknet và Smartlink mà VRB là một thành viên chính thức.
Việc đăng kí phát hành thẻ ghi nợ nội địa chỉ cần Giấy đề nghị phát hành thẻ và xuất trình CMT/Hộ chiếu. Thẻ tín dụng quốc tế (Visa Credit Card): Có hai loại thẻ chủ yếu là VISA Gold và VISA Classic với hạn mức thẻ đa dạng, đáp ứng mọi yêu cầu sử dụng.