Đặt vấn đề Cây hồ tiêu (Piper nigrum L.) là một mat hàng xuất khâu quan trọng của Việt Nam. Tuy phát triển sau so với các nước sản xuất hồ tiêu truyền thống như Brazil, An Độ, Malaysia và Indonesia, nhưng ké từ năm 2001 Việt Nam đã trở thành nước xuất khâu lớn nhất thé giới. Năm 2012 xuất khẩu hồ tiêu Viêt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc chiếm thị phan tại hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ. Cây hồ tiêu đã trở thành một trong những mặt hàng nông sản có mức tăng trưởng ấn tượng nhất trong năm 2012, giảm 4,2% về lượng nhưng lại tăng tới 10.4% về kim ngạch so với 2011, đạt khoảng 119.000 tấn với kim ngạch 808 triệu USD, là cây công nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế rất cao cho nông dân, trở thành một trong các cây trồng chủ lực của nông nghiệp Việt Nam.
Bên cạnh những thuận lợi thì hồ tiêu vẫn còn gặp nhiều khó khăn và thách thức như hồ tiêu chưa có một thương hiệu nổi tiếng, người tiêu dùng trên thé giới chưa quen nhiều với hồ tiêu Việt Nam nếu so sánh với tiêu Muntok của Malaysia, tiêu Lampung của Indinesia hoặc gần đây là tiêu Hải Nam của Trung Quốc. Việt Nam vẫn còn một tỷ lệ lớn tiêu cấp thấp (FAQ), chất lượng chưa thật sự ồn định, chỉ khoảng 16% tiêu trắng và 25% tiêu đạt chuẩn ASTA, sản phẩm hồ tiêu xuất khẩu chưa đa dạng. Trong những năm gần đây, việc phát triển hồ tiêu do nông dân và địa phương tự phát là chính, có quy hoạch chung cho cả nước nhưng chưa có quy hoạch cụ thể cho từng vùng trồng tiêu. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì ngành sản xuất và chế biến tiêu ở nước ta còn tồn động nhiều khó khăn: đó là vấn đề đầu ra.
Sản lượng tiêu ở nước ta không ngừng tăng lên, bên cạnh đó thì sản lượng tiêu ở các nước sản xuât lớn cũng tăng. Điêu này làm cho cung vượt câu. Giá ca thị trường cũng là một van đề đang được quan tâm, giá cả của sản phẩm tiêu đã qua chế biến có nhiều sự biến động. Mặc dù năm nay tiêu được giá nhưng lãi xuất khẩu vẫn không cao do thiếu thông tin dự báo nên các doanh nghiệp đã trót ký hợp đồng với giá thấp từ sớm.
Những điều này tác động và ảnh hưởng lớn đến giá cả cũng như khả năng cung tiêu trong tương lai. Vì vậy, đánh giá và phản ánh thực trạng tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu tiêu ở hiện tại sẽ làm cơ sở tốt cho việc nghiên cứu về triển vọng trong tương lai. Bên cạnh đó, việc xác định khả năng cung tiêu và giá cả tiêu trong tương lai sẽ giúp ích rất nhiều cho nông dân, các công ty xuất nhập khẩu trong việc đề ra các kế hoạch thích hợp cũng như giúp các nhà hoạch định trong việc đề ra các chiến lược sản xuất và xuất khẩu tiêu ra thị trường thế giới trong thời gian tới. Vì những lý do quan trọng nêu trên và được sự đồng ý thầy hướng dẫn TS.
Đặng Minh Phương, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích thực trạng và dự báo cung tiêu ở Việt Nam” là thật sự cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Phân tích tình hình sản xuất, tiêu thụ hồ tiêu của Việt Nam và thế giới, dự báo cung hồ tiêu của Việt Nam. Mục tiêu cụ thể - Phân tích tình hình sản xuất và tiêu thụ hỗ tiêu của Việt Nam và trên thé gidi.
- Xác định đường cung hồ tiêu của Việt Nam. - Dự báo lượng cung hồ tiêu của Việt Nam. - Đề xuất các giải pháp phát triển hồ tiêu trong những năm tới. Ý nghĩa nghiên cứu Phân tích cho thấy các yếu tố tác động đến xu hướng phát triển hồ tiêu vừa qua và sắp tới.
Với những nghiên cứu của đề tài, chúng tôi muốn giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn đúng hơn về tình hình cũng như thực trạng của ngành tiêu Việt Nam. Bên cạnh đó thì việc dự báo nguồn cung tiêu cũng hết sức cần thiết trong việc đề ra các chính sách, chiến lược sản xuất và xuất khẩu tiêu cho Bộ NN & PTNT, các công ty xuất nhập khâu và các đơn vị liên quan cũng như nông dân trồng tiêu. Giới hạn của đề tài nghiên cứu 1. Nội dung nghiên cứu - Tìm hiểu về tình hình trồng tiêu ở Việt Nam và thực trạng sản xuất, tiêu thụ cũng như xuất khâu sản phẩm tiêu ở Việt Nam.
- Phân tích tình hình sản xuất và xuất khâu tiêu trên thé giới. - Xây dựng và xác định đường cung tiêu của Việt Nam. - Dự báo nguồn cung tiêu trong thời gian tới dé lập kế hoạch phát triển. - Đánh giá và các đề xuất về ngành trồng và sản xuất tiêu ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian. Đề tài được thực hiện trên toàn Việt Nam, tập trung chủ yếu ở 3 vùng sản xuất chính là: Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. Phạm vi thời gian. Đề tài được nghiên cứu từ tháng 11/2013 đến tháng 06/2014.
Chương 2 TỎNG QUAN 2. Tổng quan các tài liệu có nghiên cứu 2. Nước ngoài Harper (1974) cho biết năng suất tiêu thay đổi rất lớn tùy theo đất dai và điều kiện canh tác. Trên đất kém phì nhiêu với phương thức quảng canh, mật độ thưa (khoảng 600-800 trụ/ha) tiêu chỉ cho năng suất 350-450kg/ha, trong khi đó tiêu được thâm canh với mật độ dày (2500-2800 trụ/ha) trên đất phì nhiêu năng suất có thé đạt 3,5-4,5 tắn/ha.
Theo một nghiên cứu của Viện nghiên cứu Gia vị Ấn Độ cho thấy rằng lượng nước tưới cho một trụ tiêu từ 7-10 lít/ngày trong mùa khô sẽ đạt năng suất cao nhất 4,07 kg/trụ/năm so với đối chứng 1,33 kg/tru/nam (IISR, 1997). Trong nước Đề tài “Nghiên cứu các giải pháp khoa học, công nghệ và thị trường để phát triển vùng hỗ tiêu nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khâu” (KC.NN) tập trung đánh giá tình hình gây hai của bệnh chết nhanh cây tiêu do nam Phytophthora capsici gây ra ở Đông Nam Bộ, và phòng trừ bệnh chết nhanh trên tiêu kinh doanh bằng biện pháp hoá học là chính (Nguyễn Tăng Tôn, 2005). Nguyễn Thị Minh Châu (2008) nghiên cứu tác động của một số yếu tô chính đến thu nhập của hộ sản xuất hồ tiêu Việt Nam trường hợp điển hình ở vùng Đông Nam Bộ cho thấy anh hưởng của một số yếu tô chính đến thu nhập ròng / ha và thu nhập của gia đình nhưsau : Khi năng suất đất tăng hay giảm 1% thì thu nhập ròng/ha và thu nhập lao động gia đình trung bình sẽ tăng, giảm tương ứng là 1,069% và 0,525% trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi; Khi chi phí trung bình tang hay giảm 1% thì thu nhập ròng /ha và thu nhập lao động gia đình trung bình giảm, tăng tương ứng là 0,733% và 0,860% trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi; Hệ số co giãn của thu nhập ròng /ha và thu nhập lao động gia đình tương ứng là 0,230 và 0,683. Ý nghĩa thực tế của mối tương quan này là kiến thức nông nghiệp có tác động một các đáng ké đến thu nhập của Hộ sản xuất hồ tiêu.
Trần Thu Hà và Nguyễ n Tăng Tôn (2011) nghiên cứu thành phần và mật số tuyến trùng gây hại trên cây hồ tiêu tại CamLộ , Quảng Trị cho thay ở rễ và đất trồng hồ tiêu tại Cam Lộ, Quảng Trị xác định được 12 giống tuyến trùng. Tuyến trùng Meloidogyne sp. rất phô biến, tuyến trùng Pratylenchus sp. và Tylenchus sp.
phô biến, còn 9 giống tuyến trùng khác là ít phổ biến. Mật số tuyến trùng ký sinh thực vật và mật số tuyến trùng Meloidogyne sp. trong đất và rễ cao nhất ở tháng 2 bởi day là thời điểm mùa mưa thích hợp cho tuyến trùng di chuyền, tìm kiếm thức ăn và sinh sản. Sau đó, tháng 10 và tháng 5 mật số tuyến trùng giảm đáng kẻ.
Đề tài “Nghiên cứu các giải pháp khoa học, công nghệ và thị trường dé phat triển vùng hồ tiêu nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khâu” (KC.NN) tập trung đánh giá tình hình gây hại của bệnh chết nhanh cây tiêu do nam Phytophthora capsici gây ra ở Đông Nam Bộ, và phòng trừ bệnh chết nhanh trên tiêu kinh doanh bằng biện pháp hoá học là chính (Nguyễn Tăng Tôn, 2005). Đề tài “Xây dựng mô hình arima cho dự báo khách du lịch quốc tế đến Việt Nam” của nhóm tác giả trường đại học nông nghiệp Hà Nội đã dùng phương pháp Box-Jenkins dy báo lượng khách quốc tế đến Việt Nam từ thang 1 năm 2011 đến tháng 5 năm 2011. Kết quả đề tài cho thay lượng khách quốc tế đến Việt Nam thang 5 năm 2011 đạt 609. Dé đạt được con số này, đề tài cũng đưa ra các giải pháp về quy hoạch phát triển, thu hút đầu tư, cân đối nguồn lực hạn chế rủi ro trong kinh doanh du lịch.
Đề tài này cũng chỉ ra rằng mô hình ARIMA cũng chưa phải là phương pháp tối ưu vì sự phụ thuộc trong mô hình này được giả định là định tính. Dương Huyền Trang (2012) với đề tài “Phân tích và dự báo nhu cầu dầu thô tại Việt Nam” cho thấy sản lượng cầu dầu thô phụ thuộc vào giá dầu thô và thu nhập của người dân. Khi giá tăng lên 1USD/thùng thì lượng cầu về dầu sẽ giảm 1,49 thùng/ngày, khi thu nhập tăng lên 1USD/người/năm thì nhu cầu về dau sẽ tăng lên 85,7 thùng/ngày. Ngoài ra, đề tài tiến hành dự báo lượng cầu dầu thô theo hai phương pháp dự báo là phương pháp hồi quy tuyến tính và phương pháp dự báo bằng mô hình ARIMA.
Kết quả đề tài cho thấy cả hai mô hình của hai phương pháp dự báo này đều có các điểm dự báo và các điểm thực tế bám sát nhau, nên cả hai phương pháp dự báo đều phù hợp. Và đề tài đã chọn kết quả dự báo của mô hình Arima dé đưa ra kết luận, vì mô hình Arima là một phương pháp dự báo đáng tin cậy nhất và cho ra kết quả tương đối chính xác trong các phương pháp dự báo khác. Theo kết quả dự báo từ mô hình ARIMA thì lượng cầu dầu thô tại Việt Nam năm 2020 đạt 90. Từ đó xây dựng những chính sách phù hợp dé đáp ứng nhu cầu dâu thô trong tương lai.
Tuy nhiên, trong các đề tài đã nghiên cứu, chưa có đề tài nào nghiên cứu về Phân tích và dự báo cung hồ tiêu ở Viêt Nam.