LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tình hình kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng trong giai đoạn hiện tại đang có rất nhiều diễn biến phức tạp và khó lƣờng. Các biến động đó đặt ra không ít cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Trƣớc tình hình đó đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển, nhà quản trị doanh nghiệp ngoài việc nắm bắt đƣợc nhu cầu của thị trƣờng còn phải không ngừng nâng cao trình độ và năng lực quản lý, đồng thời nắm vững tình hình tài chính của DN mình để đƣa ra các quyết định đúng đắn, chính xác và kịp thời, nhằm đảm bảo thực hiện chiến lƣợc sản xuất kinh doanh có hiệu quả và mang tính bền vững.
Muốn đạt đƣợc điều này, doanh nghiệp cần phải thực hiện định kỳ việc phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng nhƣ tình hình tài chính của mình một cách nghiêm túc và đầy đủ. Từ đó phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt hạn chế của hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra đƣợc những nguyên nhân cơ bản đã ảnh hƣởng đến các mặt này và đề xuất đƣợc các giải pháp cần thiết để cải thiện hoạt động tài chính tạo tiền đề để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Do đó có thể thấy, phân tích tình hình tài chính là việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết. Phân tích tình hình tài chính nhằm đánh giá đƣợc đầy đủ và, chính xác tình hình tổ chức, phân phối, sử dụng và quản lý nguồn vốn của doanh nghiệp, vạch rõ đƣợc xu hƣớng phát triển của doanh nghiệp.
Phân tích tình hình tài chính là một công cụ vô cùng quan trọng cho công tác quản lý của nhà quản trị doanh nghiệp. Hiểu rõ đƣợc tầm quan trọng và thiết thực của việc phân tích tài chính doanh nghiệp, tôi đã chọn đề tài “Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần - tƣ vấn - thƣơng mại - dịch vụ - địa ốc Hoàng Quân” là chuyên đề báo cáo trong khóa luận tốt nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu Quá trình phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm vào hai mục tiêu chủ yếu sau: Nắm bắt các số liệu thể hiện tình hình tài chính nhằm hiểu rõ thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Từ các nhận định về thực trạng tài chính của doanh nghiệp, đƣa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Phƣơng pháp nghiên cứu Khóa luận tốt nghiệp 1 SVTH: Bùi Thị Mộng Tuyền Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Ngô Hoàng Điệp Phƣơng pháp thu thập số liệu: Các số liệu đƣợc thu thập trên báo cáo tài chính kiểm toán của công ty đã công bố. Phƣơng pháp xử lý số liệu: Đề tài sử dụng các phƣơng pháp định lƣợng và định tính, cụ thể là: Phƣơng pháp so sánh Phƣơng pháp phân tích biến động qua các năm, trong hiện tại 4. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề: Về không gian: Công ty cổ phần - tƣ vấn - thƣơng mại - dịch vụ - địa ốc Hoàng Quân.
Về thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2012 Về nội dung: Nghiên cứu về cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, khả năng hoạt động, khả năng sinh lợi, đánh giá thực trạng tài chính và xu hƣớng phát triển của doanh nghiệp, từ đó đƣa ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty. Kết cấu của khóa luận Đề tài bao gồm 3 chƣơng, nội dung cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tình hình tài chính doanh nghiệp và phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phân tích tình hình tài chính tại Công ty cổ phần - tƣ vấn - thƣơng mại - dịch vụ - địa ốc Hoàng Quân. Chƣơng 3: Nhận xét và kiến nghị.
Tuy nhiên, vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, tôi kính mong nhận đƣợc sự góp ý, chỉ bảo thêm của thầy, cô cùng toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty để bài viết của tôi hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn. Khóa luận tốt nghiệp 2 SVTH: Bùi Thị Mộng Tuyền Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Ngô Hoàng Điệp CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp 1.1 Khái niệm doanh nghiệp Theo điều 4, Luật Doanh nghiệp năm 2005 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Nhƣ vậy ta có thể hiểu: Doanh nghiệp là 1 tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho ngƣời tiêu dùng nhằm mục đích sinh lời.2 Khái niệm tài chính Theo từ điển kinh tế học hiện đại, tài chính biểu thị vốn dƣới các dạng tiền tệ, nghĩa là ở dạng các khoản có thể vay mƣợn hay đóng góp vốn thông qua thị trƣờng tài chính hay các định chế tài chính. Nói khác đi, tài chính phản ánh phƣơng thức hoạt động của các cá nhân, công ty và tổ chức thông qua việc tạo lập, phân bố và sử dụng các quỹ tiền tệ để đáp ứng những nhu cầu của các chủ thể kinh tế - xã hội khác nhau. Phạm trù tài chính có đặc điểm là: - Tài chính có đặc trƣng không chỉ bao gồm các nguồn lực dƣới dạng tiền mặt hay các khoản tiền gởi mà còn dƣới dạng các loại tài sản tài chính nhƣ cổ phiếu, trái phiếu hay các công cụ nợ…miễn là các loại tài sản này đƣợc chấp nhận trên thị trƣờng nhƣ là các công cụ trao đổi hay chuyển tải giá trị. - Tài chính liên quan đến việc chu chuyển các nguồn tài chính giữa các chủ thể với nhau, từ các chủ thể có nguồn vốn tiết kiệm đến các chủ thể cần vốn.
- Sự chu chuyển hay còn gọi là chuyển giao các nguồn lực của tài chính bao gồm tiến trình: tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính. Ta có thể thấy các hoạt động tài chính thể hiện ra thành sự vận động của vốn tiền tệ, nhất là sự vận động phân phối sản phẩm dƣới hình thức tiền tệ, vì vậy các quan hệ tài chính là các quan hệ phân phối của cải xã hội dƣới hình thức tiền tệ. Các quan hệ này có các đặc điểm sau: - Quan hệ phân phối gắn liền với việc thực hiện những nhiệm vụ của Nhà nƣớc và đáp ứng nhu cầu chung của xã hội. Khóa luận tốt nghiệp 3 SVTH: Bùi Thị Mộng Tuyền Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.
Ngô Hoàng Điệp - Quan hệ phân phối luôn gắn liền với việc hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung, đƣợc sử dụng trên phạm vi toàn xã hội hoặc trong từng DN, các tổ chức kinh tế. Đây là điểm đặc trƣng của phân phối tài chính. (Trích nguồn: PGS.TS Sử Đình Thành – PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng (2008), Nhập môn tài chính tiền tệ, trang 1-2, NXB Lao động xã hội.3 Khái niệm tài chính doanh nghiệp Xét về hình thức: Tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp. Về bản chất, TCDN là các quan hệ kinh tế dƣới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của DN trong quá trình hoạt động của DN.
Xét về mặt nội dung: Tài chính doanh nghiệp là một mặt hoạt động của DN nhằm đạt tới các mục tiêu của DN đã đề ra. Các hoạt động gắn liền với việc tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động chuyển hóa của quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của DN.4 Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp - Hoạt động của tài chính DN luôn gắn liền và phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. - Hoạt động của tài chính DN bị chi phối bởi tính chất sở hữu vốn trong mỗi DN. - Hoạt động của tài chính DN luôn bị chi phối bởi mục tiêu lợi nhuận.2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp 1.1 Chức năng huy động vốn Để thực hiện sản xuất kinh doanh trong điều kiện của cơ chế thị trƣờng có hiệu quả đòi hỏi các DN phải có vốn và có phƣơng án tạo lập, huy động vốn cụ thể.
- Thứ nhất, phải xác định nhu cầu vốn (vốn cố định và vốn lƣu động) cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh. - Thứ hai, phải xem xét khả năng đáp ứng nhu cầu vốn và các giải pháp huy động vốn: + Nếu nhu cầu lớn hơn khả năng thì DN phải huy động thêm vốn, tìm kiếm mọi nguồn tài trợ với chi phí sử dụng vốn thấp nhƣng vẫn bảo đảm có hiệu quả. + Nếu khả năng lớn hơn nhu cầu thì DN có thể mở rộng sản xuất, mở rộng thị trƣờng hoặc có thể tham gia vào thị trƣờng tài chính nhƣ đầu tƣ chứng khoán, cho thuê tài sản, góp vốn liên doanh. Khóa luận tốt nghiệp 4 SVTH: Bùi Thị Mộng Tuyền Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.
Ngô Hoàng Điệp - Thứ ba, phải lựa chọn nguồn vốn và phƣơng thức thanh toán các nguồn vốn sao cho chi phí DN phải trả là thấp nhất trong khoảng thời gian hợp lý.2 Chức năng phân phối thu nhập Chức năng phân phối biểu hiện ở việc phân phối thu nhập của DN từ doanh thu bán hàng và thu nhập từ các hoạt động khác. Nhìn chung, các DN phân phối nhƣ sau: - Bù đắp các yếu tố đầu vào đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh nhƣ chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí vật tƣ, chi phí cho lao động và các chi phí khác mà DN đã bỏ ra, nộp thuế thu nhập DN (nếu có lãi). - Phần lợi nhuận còn lại sẽ phân phối nhƣ sau: Bù đắp các chi phí không đƣợc trừ; Chia lãi cho đối tác góp vốn, chi trả cổ tức cho các cổ đông; Phân phối lợi nhuận sau thuế vào các quỹ của DN.3 Chức năng giám đốc tài chính Tình hình tài chính của DN phản ánh một cách chính xác nhất hoạt động kinh doanh của DN.