Phần mở đầu; Kết luận; Tài liệu tham khảo; Phụ lục kết cấu khóa luận bao gồm 3 phần chính: Phần 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực trạng quản lý bán hàng tại công ty TNHH Công nghệ NIW Trong phần này đã nêu ra những cơ sở lý luận về đến bán hàng và quản lý bán hàng, đồng thời phân tích đánh giá tình hình hoạt động bán hàng tại công ty. Phần 3: Phân tích thiết kế hệ thống quản lý bán hàng tại công ty TNHH Công nghệ NIW Phần này sẽ tập trung vào nêu ra những gì mà hệ thống cần, phân tích hệ thống qua các biểu đồ từ đó có thể xây dựng cơ sở dữ liệu và thiết kế giao diện cho hệ thống. 6 Luan van PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY TNHH CÔNG NGHỆ NIW 2.1 Một số khái niệm cơ bản về bán hàng Bán hàng: Bán hàng là hoạt động kinh doanh nhằm đem sản phẩm của nhà sản xuất đến với tất cả người tiêu dùng trong toàn xã hội, đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng, gia tăng doanh số và đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Bán hàng là mắt xích trong chu kì kinh doanh của doanh nghiệp, là quá trình chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho người mua đồng thời thu lại tiền hàng.
Hay nói cách khác , bán hàng là một mặt của hàng vi thương mại theo đó người bán có nghĩa vụ giao quyền sở hữu cho người mua và thu tiền về, còn người mua có nghĩa vụ trả tiền cho người bán theo thảo thuận đôi bên. Bán hàng là quá trình trong đó người bán tìm hiểu, khám phá, khởi tạo và thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn của người mua nhằm đáp ứng quyền lợi lâu dài cho cả 2 bên. Quản lý bán hàng: Là hoạt động quản trị do một người hoặc nhóm người bán hàng thực hiện nhằm thâu tóm, quản lý mọi hoạt động xung quang việc bán hàng. (Nguồn: Kỹ năng và quản trị bán hàng –Lê Đăng Kỳ, nhà xuất bản thống kê, 2005) Vai trò của hoạt động quản lý bán hàng Trong hầu hết mọi công ty, nhân viên bán hàng là cầu nối đơn giản và quan trong nhất đối với khách hàng.
Nếu người bán hàng không làm việc hiệu quả thì mọi cố gắng thiết kế hay kế hoạch cho việc bán hàng đều sẽ thất bại. Vì vậy cần phải kết hợp cả 2 trong việc bán hàng và quản lý bán hàng. Bán hàng không phải là hoạt động đáp ứng mục tiêu trước mắt mà nó còn là cả chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động bán hàng không những giúp khác hàng thỏa mãn nhu cầu mà còn tái tạo, khơi dậy phát triển nhu cầu khách hàng giúp tạo uy tín cho doanh nghiệp trên thị trường.
7 Luan van Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của bất cứ doanh nghiệp nào cũng là lợi nhuận, nhưng trước mắt phải là tìm được chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp phải bán được càng nhiều hàng hóa càng tốt để tạo ra doanh thu và uy tín cho doanh nghiệp trước đã. Luân chuyển hàng hóa trog quá trình tái sản xuất. Với vai trò này bán hàng đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra bình thường đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế, phục vụ nhu cầu của xã hội.
Khi sản xuất phát triển, nhà sản xuất không thể tự mình đem hết tất cả sản phẩm phục vụ cho những ai có nhu cầu. Vì vậy hoạt động bán hàng chính là cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng trong xã hội Phục vụ nhu cầu từ đơn giản đến phức tạp, từ nhu cầu tiêu dùng trong sản xuất đến nhu cầu cá nhân, làm trung gian liên lạc giữa doanh nghiệp và khách hàng. Nay là vai trò gần gũi cụ thể nhất giúp sản xuất nắm bắt nhu cầu thực tế về loại sản phẩm trên thị trường trong từng thời kì. Lý thuyết về phân tích thiết kế HTTT quản lý Thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người.
Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp, một nguời có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiên thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh. Hệ thống là một tập hợp có tổ chức gồm nhiều phần tử có các mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau và cùng hoạt động hướng tới một mục tiêu chung.Trong hoạt động có trao đổi vào ra với môi trường ngoài. Hệ thống thông tin là một tập hợp và kết hợp của các phần cứng, phần mềm và các hệ mạng truyền thông được xây dựng và sử dụng để thu thập, tạo, tái tạo, phân phối và chia sẻ các dữ liệu, thông tin và tri thức nhằm phục vụ các mục tiêu của tổ chức. Hệ thống quản lý là một hệ thống có một mục đích mang lại lợi nhuận hoặc lợi ích nào đó.
Đặc điểm của hệ thống là có sự tham gia của con người và trao đổi thông tin. Hệ thống quản lý chia thành hai hệ thống con là hệ tác nghiệp và 8 Luan van hệ quản lý. Hệ tác nghiệp bao gồm con người, phương tiện, phương pháp trực tiếp thực hiện mục tiêu đã đề ra. Còn hệ quản lý lại bao gồm con người, phương tiện, phương pháp cho phép điều khiển hoạt động của hệ thống.3 Lý thuyết về phương pháp phân tích thiết kế Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin có 2 phương pháp: Phương pháp phân tích hướng chức năng và phương pháp phân tích hướng đối tượng.
Phương pháp phân tích hướng chức năng Phân tích thiết kế theo hướng chức năng là kiểu phân tích lấy quá trình làm trung tâm để phân tích một hệ đang có và xác định các yêu cầu nghiệp vụ cho một hệ thống mới. Đặc điểm của phương pháp phân tích thiết kế theo hướng chức năng là phân rã một hệ thống lớn thành các hệ thống con đơn giản từ trên xuống. Phương pháp này tiến hành phân rã bài toán thành các bài toán nhỏ hơn rồi tiếp tục phân rã các bài toán con cho đến khi nhận được bài toán có thể cài đặt được ngay sử dụng các hàm của ngôn ngữ lập trình hướng chức năng. Các bước cần làm trong phân tích thiết kế hướng chức năng: Xây dựng biểu đồ phân cấp chức năng: Là công cụ biểu diễn việc phân rã có thứ bậc đơn giản các công việc cần thực hiện.
Mỗi công việc (chức năng) được chia thành các công việc con (chức năng con), số mực chia tùy vào yêu cầu của hệ thống. Biểu đồ luồng dữ liệu mức ngữ cảnh: Là một biểu đồ bao gồm các chức năng xử lý chính của hệ thống, các tác nhân ngoài, các luồng thông tin vào ra. Biểu đồ luồng dữ liệu mức đỉnh: Là biểu đồ phân rã các chức năng xử lý của hệ thống thành các chức năng con, tác nhân ngoài và luồng thông tin vào ra được bảo toàn. Biểu đồ cũng bổ sung luồng thông tin nội bộ giữa các chức năng xử lý của hệ thống.
Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh: Là biểu đồ phân rã từng chức năng xử lýở mứcđỉnh thành các chức năng xử lý nhỏ hơn, giữ nguyên các tác nhân 9 Luan van ngoài và luồng thông tin vào ra, bổ sung thêm các kho chứa dữ liệu của hệ thống. Mô hình thực thể liên kết: Đây là một mô hình mô tả dữ liệu đầy đủ, đơn giản nhất, xây dựng mô hình nhằm thành lập một biểu đồ cấu trúc dữ liệu bao gồm dữ liệu cần xử lý và cấu trúc nội tại của nó. Mô hình được xây dựng bằng cách dung 4 kiểu khối xây dựng: thực thể, kiểu thực thể, thuộc tính, liên kết. Mô hình quan hệ: Là một mô hình tổng quát, thể hiện đầy đủ nhất các quan hệ của các thuộc tính.
Bao gồm mối liên kết, khóa chính, các thuộc tính. Phương pháp phân tích hướng đối tượng Phương pháp phân tích hướng đối tượng là một lối tư duy theo cách ánh xạ các thành phần trong bài toán vào các đối tượng ngoài đời thực. Với cách tiếp cận này, một hệ thống được chia tương ứng thành các thành phần nhỏ gọi là các đối tượng, mỗi đối tượng bao gồm đầy đủ cả dữ liệu và hành động liên quan đến đối tượng đó. Các đối tượng trong một hệ thống tương đối độc lập với nhau và phần mềm sẽ được xây dựng bằng cách kết hợp các đối tượng đó lại với nhau thông qua các mối quan hệ và tương tác giữa chúng.
Đặc điểm của phương pháp hướng đối tượng Cả hệ thống được coi như một thực thể được tổ chức từ tập đối tượng (thực thể) và các đối tượng đó trao đổi với nhau thông qua việc gửi và nhận; theo cách tiếp cận này, các chức năng của hệ thống được biểu diễn thông qua công tác của đối tượng do đó việc tiến hóa thay đổi chức năng sẽ không ảnh hưởng đến cấu trúc tĩnh của phần mềm; sức mạnh của việc phân tích hướng đối tượng là việc tách, chia, nhập được thực hiện nhờ tập phong phó các cơ chế tích hợp của chúng, khả năng thống nhất cao. Hơn nữa phân tích hướng đối tượng có khả năng thực hiện với các hệ thống phức tạp, dễ mở rộng, phù hợp với yêu cầu của người dùng. Chúng có khả năng hoàn thành phần mềm đúng kì hạn và không vượt quá ngân sách dự kiến ban đầu đặt ra. Một số thành phần cơ bản trong hướng đối tượng 10 Luan van Đối tượng (object): Một đối tượng biểu diễn một thực thể vật lý, một thực thể khái niệm hoặc một thực thể phần mềm.
Có thể định nghĩa một đối tượng là một khái niệm, sự trừu tượng hoặc một vật với giới hạn rõ ràng và có ý nghĩa với một ứng dụng cụ thể. Lớp (Class): Là mô tả của một nhóm đối tượng có chung các thuộc tính, hành vi và các mối quan hệ. Như vậy, một đối tượng là thể hiện của một lớp và một lớp là một định nghĩa trừu tượng của đối tượng. Thành phần (component): Là một phần của hệ thống hoạt động độc lập và giữ một chức năng nhất định trong hệ thống.
Gói (package): Là một cách tổ chức các thành phần, phần tử trong hệ thống thành các nhóm. Nhiều gói có thể được kết hợp với nhau để trở thành một hệ thống con (subsystem). Kế thừa: Trong phương pháp hướng đối tượng, một lớp có thể có sử dụng lại các thuộc tính và phương thức của một hoặc nhiều lớp khác.