Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Phần này nêu ra tính cấp thiết của đề tài, đồng thời đặt ra mục tiêu cụ thể cần giải quyết trong đề tài, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp thực hiện đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận của hệ thống thông tin quản lý bán hàng tại công ty VNP. Phần này hệ thống hóa kiến thức lý luận cơ bản về phân tích và thiết kế hệ thống thông tin trong doanh nghiệp và mô hình quản lý của công ty.
Chương 3: Phân tích thực trạng hệ thống quản lý bán hàng tại công ty VNP. Chương 4: Phân tích, thiết kế hệ thống thông tin quản lý bán hàng tại Công ty: Phần này dựa trên kết quả phân tích từ những phần trước tiến hành phân tích thiết kế hệ thống thông tin quản lý bán hàng theo hướng đối tượng. Tổng kết lại đề tài nghiên cứu khóa luận và đưa ra hướng phát triển của đề tài. Sinh viên: Nguyễn Thị Mai Lan- 14D190241Page 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com KLTN- Khoa Hệ Thống Thông Tin Kinh Tế & TMĐT GVHD: Nghiêm Thị Lịch CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PTTK HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ BÁN HÀNG 2.1 Tổng quan về PTTK hệ thống 2.1Một số khái niệm cơ bản - Hệ thống là một tập hợp có tổ chức gồm nhiều phần tử có các mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau và cùng hoạt động hướng tới một mục tiêu chung.
Phần tử có thể là vật chất hoặc phi vật chất: Con người, máy móc, thông tin, dữ liệu, phương pháp xử lý, qui tắc, quy trình xử lý. - Hệ thống thông tin là tập hợp người, thủ tục và các nguồn lực để thu thập, xử lý, truyền và phát thông tin trong một tổ chức. Hệ thống thông tin có thể là thủ công nếu dựa vào các công cụ như giấy, bút. Hệ thống thông tin hiện đại là hệ thống tự động hóa dựa vào máy tính (phần cứng, phần mềm) và các công nghệ thông tin khác.
Nguồn Đích Thu thập Xử lý và lưu giữ Phân phát Kho dữ liệu Sơ đồ 2. Mô hình hệ thống thông tin. (Nguồn: Giáo trình phân tích thiết kế hệ thống thông tin quản lý, Thạc Bình Cường) Các thành phần của HTTT: Phần cứng: là các bộ phận (vật lý) cụ thể của máy tính hoặc hệ thống máy tính, hệ thống mạng sử dụng làm thiết bị kỹ thuật hỗ trợ hoạt động trong hệ thống thống thông tin. Phần cứng là các thiết bị hữu hình,có thể nhìn thấy, cầm nắm được.
Phần mềm: là một tập hợp những câu lệnh được việt bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo thứ tự nào đó để thực hiện chức năng hoặc giải quyết một bài toán nào đó. Phần mềm có thể là những ý tưởng trừu tượng, các thuật toán, các chỉ thị… Hệ thống mạng: mạng máy tính là tập hợp những máy tính độc lập được kết nối với nhau thông qua các đường truyền vật lý và tuân theo các quy ước truyền thông nào đó Sinh viên: Nguyễn Thị Mai Lan- 14D190241Page 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com KLTN- Khoa Hệ Thống Thông Tin Kinh Tế & TMĐT GVHD: Nghiêm Thị Lịch Cơ sở dữ liệu: + CSDL là một hệ thống các thông tin có cấu trúc được lưu trữ trên các thiết bị lưu trữ thông tin thứ cấp (như băng đĩa, đĩa từ,…) để có thể thỏa mãn yêu cầu khai thác thông tin đồng thời của nhiều người sử dụng hay nhiều chương trình ứng dụng với nhiều mục đích khác nhau. + Hệ quản trị CSDL là một phần mềm chuyên dụng giải quyết tốt tất cả các vấn đề đặt ra cho một CSDL: tính chủ quyền, cơ chế bảo mật hay phân quyền hạn khai thác CSDL, giải quyết tranh chấp trong quá trình truy nhập dữ liệu… + Tài nguyên về dữ liệu gồm các CSDL. CSDL phải được thu thập, lựa chọn và tổ chức một cách khoa học theo một mô hình có cấu trúc xác định, tạo điều kiện cho người sử dụng có thể truy cập một cách dễ dàng, thuận tiện và nhanh chóng.
Con người: là chủ thể điều hành và sử dụng HTTT. Gồm hai nhóm chính là: những người sử dụng HTTT trong công việc và những người xây dựng, bảo trì HTTT. - Hệ thống thông tin quản lý Một hệ thống tích hợp “người-máy” tạo ra các thông tin giúp con người trong sản xuất, quản lý và ra quyết định là HTTT quản lý. HTTT quản lý sử dụng các thiết bị tin học, các phần mềm, CSDL, các thủ tục thủ công, các mô hình để phân tích, lập kế hoạch quản lý và ra quyết định.
Đây cũng là tên gọi của một chuyên ngành khoa học. Ngành khoa học này thường được xem là một phân ngành của khoa học quản lý và quản trị kinh doanh. Ngoài ra, do ngày nay việc xử lý dữ liệu thành thông tin và quản lý thông tin liên quan đến CNTT, nó cũng được coi là một phân ngành trong toán học, nghiên cứu việc tích hợp hệ thống máy tính vào mục đích tổ chức. Phần lớn hệ thống xử lý giao dịch thường được xây dựng nhằm phục vụ cho một hoặc vài chức năng nào đó, hoặc chỉ đơn giản là giúp con người giải thoát khỏi một số công việc tính toán, thống kê nặng nhọc.
Khi xuất hiện nhu cầu cung cấp các thông tin tốt hơn và đầy đủ hơn, cũng là lúc cần đến những phương thức xử lý thông tin một cách tổng thể - HTTT quản lý. Với hạt nhân là CSDL hợp nhất, HTTT quản lý có thể hỗ trợ cho nhiều lĩnh vực chức năng khác nhau và có thể cung cấp cho các nhà quản lý công cụ và khả năng dễ dàng truy cập thông tin, HTTT quản lý có các chức năng chính: Thu nhập, phân tích và lưu trữ các thông tin một cách hệ thống, những thông tin có ích được cấu trúc hoá để có thể lưu trữ và khai thác trên các phương tiện tin học. Thay đổi, sửa chữa, tiến hành tính toán trên các nhóm chỉ tiêu, tạo ra các thông tin mới. Phân phối và cung cấp thông tin.
Sinh viên: Nguyễn Thị Mai Lan- 14D190241Page 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com KLTN- Khoa Hệ Thống Thông Tin Kinh Tế & TMĐT GVHD: Nghiêm Thị Lịch Chất lượng của HTTT quản lý được đánh giá thông qua tính nhanh chóng trong đáp ứng các yêu cầu thông tin, tính mềm dẻo của hệ thống và tính toàn vẹn, đầy đủ của hệ thống. Nhiệm vụ HTTT quản lý: Nhiệm vụ đối ngoại: Nhiệm vụ đối ngoại là thu thập thông tin từ phía ngoài hệ thống phục vụ các hoạt động bên trong của hệ thống đồng thời đưa các thông tin ra bên ngoài như các thông tin về giá cả thị trường, sức lao động, nhu cầu hàng hóa. Nhiệm vụ đối nội: Nhiệm vụ đối nội làm cầu nối liên lạc giữa các bộ phận của hệ kinh doanh, cung cấp thông tin cho hệ tác nghiệp và các hệ đưa ra quyết định như các thông tin phản ánh tình trạng nội bộ của cơ quan tổ chức trong hệ thống đồng thời thông tin về tình trạng hoạt động kinh doanh của hệ thống thông tin của doanh nghiệp. Một số dạng hệ thống thông tin quản lý: Để định hướng ra các hệ thống thông tin quản lý người ta dựa vào định hướng hoạt động của hệ thống thông tin và tổng thể các bài toán quản lý mà hệ thống giải quyết.
Theo cách này thì có thể chia các hệ thống thông tin thành một số dạng sau: - Hệ thống thông tin dự báo - Hệ thống thông tin khoa học - Hệ thống thông tin kế hoạch - Hệ thống thông tin thực hiện Các hệ thống thông tin này giồng nhau về: - Cấu trúc - Các hoạt động cơ bản Các hệ thống thông tin này khác nhau về: - Nội dung các cơ sở dữ liệu - Các phần mềm thực hiện các công việc khấc nhau - Các thông tin kết quả - Người sử dụng 2.2 Một số lý thuyết về phân tích và thiết kế hệ thống thông tin Hệ thống thông tin tin học hóa là một trong những ứng dụng đầy đủ và toàn diện nhất các thành tựu của công nghệ thông tin vào một tổ chức. Tại sao phải phân tích và thiết kế hệ thống thông tin? Đó là vì để có một cái nhìn đầy đủ, đúng đắn và chính xác về hệ thống thông tin được xây dựng trong tương lai, tránh sai lầm trong thiết kế và cài đặt, tăng vòng đời của hệ thống, dễ sửa chữa, bổ sung và phát triển hệ thống trong quá trình sử dụng hoặc khi hệ thống yêu cầu. Và để phân tích và thiết kế HTTT thì cần có những cơ sở lý luận cũng như hiểu rõ những Sinh viên: Nguyễn Thị Mai Lan- 14D190241Page 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com KLTN- Khoa Hệ Thống Thông Tin Kinh Tế & TMĐT GVHD: Nghiêm Thị Lịch thuật ngữ trong phân tích thiết kế HTTT, dưới đây là một số cơ sở lý luận về phân tích và thiết kế hệ thống thông tin theo hướng chức năng. Phân tích hệ thống là bước đầu tiên rất quan trọng cho dự án phát triển phần mềm.
Là quá trình xem xét, đánh giá hệ thống thông tin hiện hành và xác định các khả năng cải tiến, phát triển hệ thống. Phân tích hệ thống thông tin gồm có phân tích chức năng (công cụ sử dụng là sơ đồ chức năng và sơ đồ luồng dữ liệu) và phân tích dữ liệu (công cụ sử dụng là mô hình thực thể liên kết). Kết quả của việc phân tích hệ thống là các tài liệu đặc tả tính năng hệ thống. Các tài liệu này thông thường ở dạng các sơ đồ, biểu đồ,.
Thiết kế là giai đoạn tiếp theo của phân tích, nhằm hiểu hệ thống hoạt động như thế nào. Thiết kế gồm các công việc sau: thiết kế các thủ tục thủ công và các giao diện, thiết kế cơ sở dữ liệu, thiết kế phần mềm và thiết kế kiểm soát. *Các phương pháp phân tích, thiết kế HTTT: Phương pháp phân tích thiết kế hướng chức năng: Đặc trưng của phương pháp hướng chức năng là phân chia chương trình chính thành nhiều chương trình con, mỗi chương trình con nhắm đến thực hiện một công việc nhất định. Phương pháp này tiến hành phân rã bài toán thành các bài toán nhỏ hơn, rồi tiếp tục phân rã bài toán con cho đến khi nhận được bài toán có thể cài đặt được ngay, sử dụng các hàm ngôn ngữ lập trình hướng chức năng.
Sơ đồ phân cấp chức năng Mục đích của sơ đồ là nêu lên chính xác và cụ thể các chức năng chính của hệ thống thông tin. Sơ đồ chức năng của hệ thống chỉ ra cho chúng ta biết hệ thống cần phải làm gì chứ không phải chỉ ra là phải làm như thế nào.