Luận Văn Thạc Sĩ: Phân Tích Sự Phát Triển Thị Trường Viễn Thông Di Động Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích sự phát triển thị trường viễn thông di động Việt Nam và những hàm ý chính sách quan trọng cho tương lai.

Chuyên ngành

Kinh tế phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kinh tế

2014

88
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. Chương 1: Bối cảnh nghiên cứu

1.1. Câu hỏi nghiên cứu

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3. Cấu trúc của luận văn

2. Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH

2.1. Kinh tế vi mô về ngành có lợi thế theo quy mô

2.2. Các nghiên cứu liên quan

3. Chương 3: Sự phát triển của thị trường viễn thông di động Việt Nam và đóng góp của Viettel

3.1. Các điểm nút phát triển của thị trường Viễn thông di động Việt Nam

3.2. Phân tích các yếu tố hình thành các điểm nút phát triển của thị trường VTDĐ Việt Nam

4. Chương 4: Kết luận và khuyến nghị chính sách

4.1. Khuyến nghị chính sách

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về thị trường viễn thông di động Việt Nam hiện nay

Thị trường viễn thông di động Việt Nam đã trải qua nhiều biến động trong hai thập kỷ qua. Từ một thị trường độc quyền, hiện nay đã chuyển mình thành một thị trường cạnh tranh sôi động. Sự phát triển này không chỉ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Theo số liệu từ ITU, số thuê bao di động trên 100 dân đã tăng mạnh từ 1.5 vào năm 2001 lên 147.7 vào năm 2012, cho thấy sự bùng nổ của dịch vụ di động tại Việt Nam.

1.1. Sự phát triển nhanh chóng của dịch vụ di động

Dịch vụ di động tại Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc, với sự gia tăng số lượng thuê bao và chất lượng dịch vụ. Các nhà mạng như Viettel và VNPT đã đóng góp lớn vào sự tăng trưởng này, cung cấp dịch vụ với giá cả hợp lý và chất lượng ngày càng cao.

1.2. Tác động của công nghệ 5G đến thị trường

Công nghệ 5G đang dần được triển khai tại Việt Nam, hứa hẹn sẽ mang lại tốc độ truyền tải dữ liệu nhanh hơn và khả năng kết nối tốt hơn. Điều này không chỉ cải thiện trải nghiệm người dùng mà còn mở ra nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp trong ngành viễn thông.

II. Những thách thức trong ngành viễn thông di động Việt Nam

Mặc dù thị trường viễn thông di động Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải đối mặt. Cạnh tranh ngày càng gia tăng giữa các nhà mạng, cùng với sự xuất hiện của các dịch vụ OTT, đã tạo ra áp lực lớn lên các doanh nghiệp viễn thông truyền thống.

2.1. Cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà mạng

Sự cạnh tranh giữa các nhà mạng như Viettel, VNPT, và các nhà mạng khác đã dẫn đến việc giảm giá cước dịch vụ. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra thách thức cho các doanh nghiệp trong việc duy trì lợi nhuận và chất lượng dịch vụ.

2.2. Ảnh hưởng của dịch vụ OTT đến doanh thu

Các dịch vụ OTT như Zalo, Viber, và WhatsApp đang ngày càng phổ biến, khiến cho doanh thu từ dịch vụ thoại truyền thống của các nhà mạng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Điều này đòi hỏi các nhà mạng phải tìm ra giải pháp để thích ứng và phát triển.

III. Phương pháp cải thiện chất lượng dịch vụ viễn thông di động

Để nâng cao chất lượng dịch vụ và giữ chân khách hàng, các nhà mạng cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật và công nghệ mới là rất cần thiết để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.

3.1. Đầu tư vào hạ tầng mạng lưới

Đầu tư vào hạ tầng mạng lưới là yếu tố quan trọng giúp cải thiện chất lượng dịch vụ. Các nhà mạng cần mở rộng vùng phủ sóng và nâng cấp thiết bị để đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng tăng.

3.2. Nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng

Chất lượng dịch vụ khách hàng cũng cần được cải thiện. Các nhà mạng nên chú trọng đến việc đào tạo nhân viên và cải thiện quy trình phục vụ để tạo sự hài lòng cho khách hàng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu trong ngành viễn thông

Nghiên cứu về thị trường viễn thông di động Việt Nam đã chỉ ra rằng sự cạnh tranh là yếu tố chính thúc đẩy sự phát triển. Các doanh nghiệp cần phải nắm bắt xu hướng và điều chỉnh chiến lược kinh doanh để phù hợp với thị trường.

4.1. Kết quả từ các nghiên cứu trước đây

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự cạnh tranh trong ngành viễn thông di động đã giúp giảm giá cước và nâng cao chất lượng dịch vụ. Điều này không chỉ có lợi cho người tiêu dùng mà còn thúc đẩy sự phát triển của ngành.

4.2. Ứng dụng công nghệ mới trong dịch vụ

Việc ứng dụng công nghệ mới như 5G và các dịch vụ OTT có thể giúp các nhà mạng cải thiện dịch vụ và tăng cường khả năng cạnh tranh. Các doanh nghiệp cần phải nhanh chóng thích ứng với những thay đổi này để không bị tụt lại phía sau.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của thị trường viễn thông di động

Thị trường viễn thông di động Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, để duy trì sự phát triển bền vững, các doanh nghiệp cần phải đối mặt với những thách thức và tìm ra giải pháp hiệu quả.

5.1. Triển vọng phát triển trong tương lai

Với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, thị trường viễn thông di động Việt Nam có nhiều triển vọng phát triển trong tương lai. Các doanh nghiệp cần phải nắm bắt cơ hội này để phát triển.

5.2. Khuyến nghị chính sách cho ngành viễn thông

Cần có những chính sách hỗ trợ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp viễn thông phát triển. Điều này bao gồm việc tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh và khuyến khích đầu tư vào công nghệ mới.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ phân tích sự phát triển của thị trường viễn thông di động việt nam và những hàm ý chính sách

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu của thị trường di động Việt Nam, hoàn toàn độc quyền quản lý và kinh doanh bởi Tổng công ty bưu chính viễn thông VNPT. Tuy nhiên với sự tham gia hội nhập khu vực và quốc tế, các nhà lãnh đạo của Việt Nam đã ý thức được vai trò của cạnh tranh và đã hình thành chủ trương thiết lập cạnh tranh cho thị trường VTDĐ Việt Nam. Điều này dẫn đến điểm nút đáng lưu ý đầu tiên trong sự phát triển của thị trường này, năm 1995: - điểm khởi đầu cạnh tranh về mặt lý thuyết của thị trường VTDĐ Việt Nam. Thị trường VTDĐ VN giai đoạn 1995 - 2003: Giai đoạn này có thể gọi là cạnh tranh về mặt lý thuyết hay tiền cạnh tranh bởi vì tuy đã có hai doanh nghiệp ngoài VNPT hoạt động trong lĩnh vực viễn thông là Viettel và SPT nhưng thực tế VNPT vẫn nắm gần như 100% thị trường viễn thông di động.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -14- SPT và Viettel đều được phép khai thác dịch vụ viễn thông di động từ năm 1995 nhưng do rào cản gia nhập thị trường lớn - cơ sở hạ tầng trang thiết bị và công nghệ ban đầu đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn, nên gần 10 năm này (1995-2003) cả SPT và Viettel đều chưa thâm nhập được thị trường VTDĐ. Viettel ra đời năm 1995 (Phụ lục 1), đăng ký giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông di động với cam kết không phụ thuộc vào nguồn tài chính của chính phủ để phát triển loại hình dịch vụ này. Năm 1999, vốn của Viettel chỉ có 2.3 tỷ đồng do Bộ quốc phòng cấp và nhân sự là 100 người (Viettel-Nội san, 2014). Với SPT, vốn ban đầu là khoảng 50 tỷ đồng (SPT, 2013).

Trong tương quan, tổng doanh thu Viettel năm 2000 là 54 tỷ VND (Viettel, 2012) còn của VNPT là 15000 tỷ VND (VNPT, 2013), có thể thấy nguồn lực của Viettel tại thời điểm này là không đáng kể. Năm 1996, mạng GSM thứ hai, Vinaphone ra đời, nhưng không có sự khác biệt đáng kể so với MobiFone: cả hai mạng đều cùng thuộc VNPT, có cùng dịch vụ, cùng giá cước được quyết định bởi VNPT và Chính phủ. Thị trường VTDĐ vẫn hoàn toàn độc quyền. Khi độc quyền, một công ty có thể quyết định giá và giá này có thể cao hơn chi phí trung bình rất nhiều.

Nhờ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật trên thế giới mà giá cước VTDĐ giảm dần, giá cước ở Việt Nam cũng giảm nhưng do độc quyền nên giảm chậm và vẫn ở mức cao, chất lượng dịch vụ không có gì thay đổi…( Hình 3-2: Cước và thay đổi giá cước VTDĐ từ 2000-2003). Do giá cao hơn chi phí trung bình nên VNPT có lãi rất lớn, lợi nhuận năm 2003 lên tới 6.000 tỉ đồng (tăng 2.000 tỉ đồng so với dự kiến)” (Bộ trưởng Bộ bưu chính viễn thông Đỗ Trung Tá trong (Hoàng Ly, 2004)) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -15- Hình 3-2: Cước và thay đổi giá cước VTDĐ từ 2000-2003 Đơn vị: VND/phút Trong 4 năm từ 2000 đến 2003 có ba lần thay đổi cước, với mức cước nội vùng từ 3500 VND/phút xuống còn 3000 VND/phút (với thuê bao trả trước) và 1800 VND/phút với thuê bao trả sau Nguồn: số liệu từ phụ lục 1 trong (Vũ Thành Tự Anh, Đỗ Hoàng Phương, 2012) Như vậy giai đoạn này thực chất vẫn là độc quyền VNPT, tuy nhiên từ quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam và chủ chương ủng hộ cạnh tranh trong lĩnh vực VTDĐ của thủ tướng, thời kỳ này cũng đã bắt đầu hình thành những yếu tố thể chế tạo điều kiện cho cạnh tranh thực sự trên thị trường VTDĐ Việt Nam sau này: - Với chủ trương mở cửa, nước ta tham gia vào nhiều khu vực tự do thương mại - VTDĐ là một lĩnh vực thường được đặt lên bàn đàm phán bởi các nhà đầu tư nước ngoài rất để ý đến tiềm năng của thị trường VTDĐ ở nước ta. Trong các cuộc thương thuyết giữa Việt Nam và Mỹ để đi đến ký kết hiệp đinh thương mại song phương Việt - Mỹ (1995- 2000), và giữa Việt Nam với các nước trong quá trình đàm phán gia nhập WTO (1995- 2007): việc mở cửa thị trường VTDĐ luôn là một trong những điểm quan trọng được đưa ra thảo luận và Việt Nam buộc phải cam kết sẽ dần dần tự do hóa thị trường này, cho phép nhiều thành phần tham gia vào thị trường. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -16- Theo chủ trương hội nhập đó, năm 1995 MobiFone hợp tác với Công ty Comvik Vietnam AB thuộc tập đoàn Kinnevik (Thụy Điển) theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract – BCC1), trong mười năm – từ 1995-2005.

Những năm hợp tác này đã giúp MobiFone tận dụng được thêm nguồn vốn và học hỏi thêm được kinh nghiệm quản lý và vận hành của đối tác nước ngoài. Năm 2003, cũng từ sự hợp tác với nước ngoài – BCC giữa Công ty dịch vụ Bưu chính viễn thông Sài Gòn SPT với SLD Telecom (Hàn Quốc), mạng di động đầu tiên phá thế độc quyền VTDĐ của VNPT là S-Fone ra đời. 1 BCC là một dạng đầu tư trực tiếp nước ngoài trong đó đối tác nước ngoài đầu tư vào các công ty Việt Nam thông qua việc đầu tư vốn, chuyển giao kỹ thuật, các kỹ năng quản lý và đào tạo nguồn nhân lực. Hai bên thống nhất những hoạt động kinh doanh dựa trên bản hợp đồng kinh doanh mà không thành lập một pháp nhân mới, lợi nhuận sẽ được hai bên phân chia theo tỷ lệ thoả thuận trong hợp đồng.

Bên phía Việt Nam chịu trách nhiệm toàn bộ việc quản lý và vận hành kinh doanh và được hưởng toàn bộ tài sản sau khi hợp đồng BCC chấm dứt. Như vậy BCC thoả mãn yêu cầu tăng vốn dài hạn (độ dài của hợp đồng BCC thường là 6-15 năm để đủ thời gian hoàn vốn và thu lãi), thu nhận được các kỹ thuật mới, học được các kỹ năng quản lý, kiểm soát được luồng tài chính của đối tác nước ngoài. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -17- Hình 3-3: Biểu đồ thời gian về một số mốc trong thay đổi cấu trúc của VNPT, cơ sở pháp luật của viễn thông và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Nguồn: Tác giả tổng hợp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -18- - Năm 1995 cũng đánh dấu sự thay đổi trong quản lý ngành viễn thông khi Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam chính thức tách khỏi chức năng quản lý nhà nước, và trở thành đơn vị sản xuất, kinh doanh, quản lý khai thác và cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông theo mô hình Tổng Công ty 91, trực thuộc Chính phủ và Tổng cục Bưu điện với tên giao dịch quốc tế viết tắt là VNPT. - Cuối giai đoạn này, năm 2002, Bộ bưu chính viễn thông được thành lập, thay thế Tổng cục Bưu điện, chịu trách nhiệm quản lý mảng viễn thông; Pháp lệnh Bưu chính viễn thông được thông qua cũng năm đó (Số hiệu 43/2002/PL-UBTVQH10, ban hành ngày 25/05/2002),… là những thay đổi thể chế quan trọng tạo nên điều kiện thuận lợi giúp Viettel và S-Fone có thể cạnh tranh trên thị trường VTDĐ sau này.

Điều này dễ hiểu vì, với ngành có lợi thế theo quy mô như VTDĐ, việc tổ chức một hãng lớn sẽ có lợi thế kinh tế hơn là nhiều hãng nhỏ, do vậy hãng đang ở vị trí độc quyền thống lĩnh thị trường có khả năng kiểm soát giá cả mà nó đặt ra; và do đó nếu không bị chính phủ điều tiết giá thì hãng có thể dễ dàng hạ giá xuống rất thấp để có thể “đè bẹp” các hãng mới gia nhập thị trường. Để có thể phá thể độc quyền và cạnh tranh được, thì doanh nghiệp mới gia nhập ngành cần được chính phủ hỗ trợ, ít nhất là có chính sách kiểm soát giá của những doanh nghiệp đang thống lĩnh thị trường, cho đến khi doanh nghiệp đạt được một mức sản lượng nhất định để chi phí trung bình đủ thấp, đạt mức tương đối so với các doanh nghiệp đang thống lĩnh kia, thì doanh nghiệp mới có thể cạnh tranh trên thị trường sản phẩm. Pháp lệnh viễn thông ra đời đã đạt được điều đó: Có thể thấy trong Pháp lệnh viễn thông, điều 44, quy định, giá cước dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp có thị phần khống chế thì phải thông qua sự phê duyệt của cơ quan quản lý nhà nước về bưu chính viễn thông, trong khi các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường thì không phải qua phê duyệt mỗi lần thay đổi giá. Chính vì thế Viettel và SPT và sau này là Beeline,.

đã có thể tiếp cận khách hàng nhanh chóng theo chiến lược giá để cạnh tranh với các đối thủ đang thống lĩnh thị trường, và tạo nên cạnh tranh về giá. Bên cạnh đó, pháp lệnh Viễn thông còn có những quy định giúp bảo vệ các doanh nghiệp viễn thông mới ra đời khỏi sự chèn ép của các doanh nghiệp đang thống lĩnh. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -19- Chẳng hạn, điều 39, các doanh nghiệp đang thống lĩnh thị trường bị ràng buộc: “Không được sử dụng các ưu thế của mình để hạn chế hoặc gây khó khăn cho hoạt động cung cấp dịch vụ của các doanh nghiệp viễn thông khác;” “Chịu sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về thị phần, chất lượng và giá cước đối với dịch vụ viễn thông chiếm thị phần khống chế.” Hay điều 43, về kết nối các mạng viễn thông cũng quy định rõ: “Doanh nghiệp viễn thông có quyền kết nối mạng viễn thông của mình với mạng hoặc dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp khác, đồng thời có nghĩa vụ cho các doanh nghiệp viễn thông khác kết nối vào mạng hoặc dịch vụ viễn thông của mình với điều kiện công bằng và hợp lý trên cơ sở sử dụng hiệu quả tài nguyên thông tin, sử dụng chung vị trí kết nối và cơ sở hạ tầng kỹ thuật thông qua thoả thuận kết nối giữa các bên”; “Doanh nghiệp viễn thông nắm giữ các phương tiện thiết yếu có vai trò quyết định trong việc kết nối và cung cấp dịch vụ viễn thông không được từ chối yêu cầu kết nối của các chủ mạng viễn thông dùng riêng và các doanh nghiệp viễn thông khác, đồng thời phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán và thực hiện kết nối, nếu yêu cầu đưa ra hợp lý và khả thi về kinh tế, kỹ thuật;”…Những căn cứ như vậy là cơ sở giúp các doanh nghiệp mới gia nhập có cơ sở để có thể kiện lên cơ quan chức năng khi bị doanh nghiệp đang chiếm thị phần chi phối chèn ép hoặc không cho kết nối mạng – điều thường xảy ra trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của các thị trường của ngành có lợi thế quy mô.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ