Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Văn học mang tên “Thi pháp thơ Hồ Chí Minh qua tập Nhật ký trong tù” do sinh viên Lê Thị Tuyết Trinh thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Hoa Bằng tại Khoa Khoa học Cơ bản, Trường Đại học Võ Trường Toản (tháng 5/2013).

Về bối cảnh và lý do chọn đề tài, tác giả khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới. Trong di sản thơ ca của Người, Nhật ký trong tù là tập thơ tiêu biểu nhất, kết hợp linh hoạt giữa chất ký và chất thơ, ghi lại sinh hoạt của người tù, lên án chế độ nhà tù hà khắc của chính quyền Tưởng Giới Thạch, đồng thời bộc lộ tâm hồn và nhân cách cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng. Trong chương trình giáo dục phổ thông tại Việt Nam, Hồ Chí Minh là một trong chín tác giả lớn được giảng dạy chính thức cùng các danh nhân như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du. Do đó, việc nghiên cứu tác phẩm dưới góc độ thi pháp học là cần thiết để giúp người đọc tiếp cận tác phẩm toàn diện, nhận diện đúng đắn các giá trị nghệ thuật độc đáo và khẳng định tài năng văn chương của tác giả.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo 4 nhiệm vụ:

  1. Nghiên cứu về thi pháp thơ Hồ Chí Minh, đồng thời nâng cao kiến thức về thi pháp và vận dụng thi pháp trong phân tích tác phẩm văn học.
  2. Mở rộng và nâng cao hiểu biết về giá trị tập Nhật ký trong tù, qua đó khám phá tài năng thơ của Hồ Chí Minh.
  3. Khẳng định giá trị văn học của tập Nhật ký trong tù.
  4. Phục vụ công tác học tập và nghiên cứu (học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các đặc điểm thi pháp thơ Hồ Chí Minh (hình tượng nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật, thể loại, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu).
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các bài thơ tiêu biểu trong tập Nhật ký trong tù (gồm 133 bài thơ chữ Hán) dựa trên văn bản Nhật ký trong tù - Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn học, năm 2011.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống lý luận dựa trên các công trình nghiên cứu thi pháp học trong nước và quốc tế:

  • Khung lý thuyết về thi pháp và thi pháp học: Tiếp thu quan niệm của V. Girmunxki (1923), Roman Jakobson (1960), Tzvetan Todorov (1975), V. Vinogradov, GS. Trần Đình Sử (Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Dẫn luận thi pháp học), Đỗ Đức Hiểu (Đổi mới phê bình văn học) và Nguyễn Thị Dư Khánh (Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp). Tác giả xác định: Thi pháp là hệ thống các phương tiện và phương thức thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá cuộc sống bằng hình tượng; thi pháp học nghiên cứu "hình thức mang tính nội dung" gồm mặt cụ thể - cảm tính (chất liệu, không gian, thời gian, nhân vật, chi tiết...) và mặt quan niệm (nhận thức, triết lý, tư tưởng).
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:
    • Phương pháp hệ thống: Tuyển chọn các bài thơ tiêu biểu, bao quát chỉnh thể nghệ thuật tác phẩm nhằm làm nổi bật tính quy luật của hệ thống hình thức.
    • Phương pháp thống kê: Thống kê, trích dẫn văn bản thơ và dữ liệu phục vụ các đề mục nghiên cứu.
    • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích dẫn chứng cụ thể để làm rõ luận điểm, sau đó đúc kết, khái quát hóa thành các quy luật thi pháp.

Dưới đây là bảng tổng hợp các công trình nghiên cứu tiêu biểu về Nhật ký trong tù được tác giả điểm luận trong phần Lịch sử vấn đề:

Nhóm nghiên cứu Tác giả / Tài liệu Tên bài viết / Công trình Nội dung / Hướng tiếp cận chính
Quốc tế Phê-Ren-Xơ Xdilaghi (Thụy Điển) Nhật ký trong tù - Một bức tranh tự họa của Hồ Chí Minh (1937) Đánh giá tính cách mạng, bản sắc độc đáo và chân dung tự họa của tác giả qua bản dịch quốc tế ngữ.
Lelio Basso (Ý) Lời nói đầu bản dịch tiếng Ý Phân tích lòng yêu nước, yêu tự do, tinh thần dân tộc gắn liền với lý tưởng xã hội chủ nghĩa.
Gôxta-Môn-mơ-ko-vít (Thụy Điển) Những bài thơ tù (Báo Paco, 1967) Khẳng định tính chân thành, bất khuất, tinh thần lạc quan trước viễn cảnh tương lai.
Roger Denux (Pháp) Hồ Chí Minh, nhà thơ (Tạp chí Europe, 1967) Khẳng định sức mạnh tâm hồn và giá trị nhân đạo trong cảnh giam cầm.
Astrogildo Pereira (Brasil) Những bài thơ đẹp nhất (Báo Nhân Dân, 1962) Đánh giá vẻ đẹp thơ ca của một lãnh tụ kiêm nhà thơ lớn.
Eche Scherne & Henga Scherne (Đức) Lời giới thiệu bản dịch tiếng Đức Khẳng định tác phẩm bộc lộ một nhân vật cách mạng đầy sức sống và uyên thâm.
N. Nikulin (Liên Xô) Nhận định nghiên cứu văn học Nhấn mạnh sự đối lập giữa cái cao cả và thấp hèn làm sáng lên tầm vóc tâm hồn nhân vật.
Việt Nam Trần Huy Liệu (1960) Đọc tập thơ "Nhật ký trong tù" của Hồ chủ tịch Phân tích nguồn thơ từ cảnh ngục tù và lòng yêu nước sâu sắc.
Đặng Thai Mai (1977) Đọc nhật ký trong tù Giải mã sức quyến rũ từ tính ghi chép hằng ngày, tình cảm với thiên nhiên và sự bất khuất.
Hoài Thanh (1931/1961) Đọc "Nhật ký trong tù" Khắc họa những gian khổ và tinh thần lạc quan hướng về tương lai của người tù.
Phong Lê (1985) Nhật ký trong tù trên hành trình thơ văn của Bác Phân tích hoàn cảnh sáng tác và tình thế thơ khi tiếp xúc với quần chúng và khi mất tự do.
Tôn Thảo Miên Nhật ký trong tù – Tác phẩm và lời bình Đi sâu vào giá trị nhân đạo, tinh thần trân trọng và yêu thương con người.
Phùng Văn Tửu Các thước đo thời gian của Nhật ký trong Tù Bước đầu tiếp cận vấn đề thời gian nghệ thuật trong tác phẩm.
Hà Minh Đức (2008) Sự nghiệp báo chí và văn học của Hồ Chí Minh Tiếp cận tác phẩm từ các yếu tố cấu thành nghệ thuật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về thi pháp, thi pháp học; vài nét về Hồ Chí Minh và Nhật ký trong tù

Chương này thiết lập nền tảng lý thuyết và bối cảnh sáng tác:

  • Hệ thống hóa các khái niệm thi pháp, thi pháp học, chỉ rõ đối tượng nghiên cứu là hình thức mang tính nội dung và hai nguyên tắc tiếp cận cốt lõi: phương pháp hệ thống và phương pháp lịch sử.
  • Khái quát tiểu sử cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969), điểm qua các mốc lịch sử tiêu biểu (1911, 1920, 1925, 1930, 1941, 1945, 1954, 1960).
  • Tổng quan sự nghiệp sáng tác đa dạng của Hồ Chí Minh trên ba mảng: văn chính luận (Bản án chế độ thực dân Pháp, Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Không có gì quý hơn độc lập tự do, Di chúc); truyện và ký bằng tiếng Pháp giai đoạn 1922-1925 (Pari, Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Con người biết mùi hun khói, Vi hành, Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu, Con Rùa); mảng thơ ca với hơn 250 bài (Nhật ký trong tù 133 bài, Thơ Hồ Chí Minh 86 bài, Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh 36 bài).
  • Bối cảnh ra đời của Nhật ký trong tù: Ngày 13/8/1942, Hồ Chí Minh sang Trung Quốc với danh nghĩa đại diện Việt Nam độc lập đồng minh và Phân bộ quốc tế chống xâm lược của Việt Nam thì bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giữ. Tập thơ được sáng tác từ ngày 29/8/1942 đến ngày 10/9/1943 trong quá trình bị giải qua 18 nhà giam thuộc 13 huyện tỉnh Quảng Tây. Tác phẩm nguyên bản là cuốn sổ tay màu xanh mang nhan đề Ngục trung nhật ký gồm 133 bài thơ chữ Hán và các ghi chép.

Chương 2: Thi pháp nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật trong tập Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh

Chương này tập trung khai thác ba phạm trù thi pháp trung tâm:

  • Thi pháp nhân vật và quan niệm nghệ thuật về con người:
    • Con người mất tự do trong cảnh tù đày: Khắc họa hiện thực ngục tù tàn khốc, sự thiếu thốn cùng cực về miếng ăn, nước sinh hoạt, giấc ngủ và bệnh tật qua các bài thơ Cảnh binh khiêng lợn cùng đi, Tiền vào nhà giam, Hạn chế, Điền Đông, Đêm lạnh, Rụng mất một chiếc răng, Bốn tháng rồi, Chia nước, Một người tù cờ bạc vừa chết, Người bạn tù thổi sáo. Dù thể xác bị đày đọa, nhân vật trữ tình vẫn giữ vững tư thế ung dung, tự do tinh thần của một "khách tiên", thưởng trăng và hòa mình với tạo vật (Buổi chiều, Ngắm trăng, Trên đường đi, Đi Nam Ninh, Giữa đường đáp thuyền đi huyện Ung).
    • Con người trong cuộc sống sinh hoạt đời thường: Tấm lòng nhân đạo hướng về nhân dân lao động Trung Quốc. Con người hiện lên khỏe khoắn trong lao động (Chiều tối), rộn rã trong mùa gặt (Cảnh ngoài đồng), đồng cảm trước nỗi cơ cực do thiên tai hạn hán (Long An - Đồng Chính) hay nỗi đau ly tán do chính sách bắt lính của chính quyền Tưởng Giới Thạch (Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng, Gia quyến người bị gọi đi lính).
    • Con người mang niềm tin, hy vọng hướng đến tương lai: Ý chí kiên cường, coi gian nan là môi trường rèn luyện tinh thần cách mạng qua các bài Thân thể ở trong lao, Đi đường, Tự khuyên mình, Học đánh cờ, Không ngủ được, Nghe tiếng giã gạo, Ghẻ, Bốn tháng rồi.
  • Thi pháp thời gian nghệ thuật:
    • Thời gian vận động: Vận động theo chu kỳ tự nhiên trong ngày: sáng sớm (Giải đi sớm, Buổi sớm), trưa (Buổi trưa), chiều (Buổi chiều, Chiều hôm), hoàng hôn (Hoàng hôn) đến đêm khuya (Đêm lạnh).
    • Thời gian hướng đến tương lai: Khát vọng tự do và nỗi niềm đau đáu với vận mệnh non sông được khắc họa qua sự thao thức canh khuya (Không ngủ được - mơ thấy sao vàng năm cánh; Đêm không ngủ - viết hơn trăm bài thơ ngóng trời tự do; Tiếc ngày giờ - tiếc tám tháng giam cầm; Đêm thu - trọn một năm tù đày).
  • Thi pháp không gian nghệ thuật: Phân tích sự đối lập và chuyển dịch giữa không gian trong tù (chật hẹp, tăm tối, bức bối của bốn bức tường giam cầm), không gian ngoài nhà tù (bầu trời bao la, ánh trăng, ngọn gió) và không gian trên đường chuyển lao (sông nước, đồi núi hiểm trở qua 13 huyện).

Chương 3: Thi pháp thể loại, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu trong tập Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh

Chương này khảo sát các phương tiện tổ chức hình thức nghệ thuật của tác phẩm:

  • Thi pháp thể loại: Làm rõ sự phân hóa và đan xen giữa hai thể tài:
    • Thể tài tự sự trữ tình: Ghi chép nhật ký sinh hoạt thực tế kết hợp bộc lộ cảm xúc nội tâm sâu sắc.
    • Thể tài đạo đức thế sự: Bộc lộ nhận thức xã hội, đúc kết các bài học triết lý nhân sinh và đạo lý cách mạng.
  • Thi pháp kết cấu: Phân tích ba dạng cấu trúc nghệ thuật tiêu biểu: Kết cấu so sánh, Kết cấu liên tưởng và Kết cấu tương phản (đối lập giữa thể xác bị trói buộc và tinh thần tự do, giữa bóng tối nhà lao và ánh sáng ngoài trời).
  • Thi pháp ngôn ngữ và giọng điệu: Khảo sát nghệ thuật sử dụng chữ Hán cô đọng, hàm súc, sự kết hợp giữa ngôn ngữ ước lệ cổ điển và từ ngữ sinh hoạt đời thường; phân tích hệ thống giọng điệu phong phú từ trữ tình tha thiết, suy tư triết lý thâm trầm đến châm biếm, mỉa mai, trào lộng trước bộ mặt thối nát của bộ máy cai trị.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên ngữ liệu văn bản:

  • Thống kê và khảo sát hệ thống hình tượng trong 133 bài thơ chữ Hán của Nhật ký trong tù, đặt trong chỉnh thể di sản thơ ca của Hồ Chí Minh (gồm khoảng 250 bài thơ, trong đó có 86 bài thơ tiếng Việt và 36 bài thơ chữ Hán khác).
  • Hệ thống hóa hoàn cảnh lịch sử: tác phẩm ra đời trong khoảng thời gian từ 29/8/1942 đến 10/9/1943, gắn liền với hành trình tác giả bị giải qua 18 nhà giam ở 13 huyện tỉnh Quảng Tây.
  • Làm sáng tỏ các bình diện thi pháp: chỉ ra 3 khía cạnh trong quan niệm nghệ thuật về con người; 2 hướng vận động của thời gian nghệ thuật (chu kỳ thời gian trong ngày và thời gian tâm tưởng hướng tới tương lai); cấu trúc không gian ba tầng; 2 thể tài cơ bản; 3 dạng kết cấu nghệ thuật cùng hệ thống ngôn ngữ - giọng điệu.

Về đóng góp học thuật, tác giả chỉ ra rằng các công trình nghiên cứu trước đây (cả trong nước và quốc tế) chủ yếu tiếp cận tác phẩm từ góc độ nội dung chính trị, giá trị lịch sử, xã hội và nhân đạo. Khóa luận này là một nghiên cứu chuyên sâu, áp dụng hệ thống lý luận thi pháp học hiện đại để phân tích Nhật ký trong tù như một chỉnh thể nghệ thuật hoàn chỉnh, làm nổi bật sự kết hợp hài hòa giữa chất cổ điển và hiện đại, giữa tính chiến đấu cách mạng và cảm xúc trữ tình.

Về mặt ứng dụng, đề tài cung cấp tài liệu phục vụ việc giảng dạy, học tập tác phẩm văn học Hồ Chí Minh trong nhà trường và đóng góp tư liệu nghiên cứu tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo tác giả tự nhận định, do điều kiện và dung lượng của một khóa luận tốt nghiệp, công trình chưa thể khảo sát toàn diện đến từng câu chữ của toàn bộ 133 bài thơ trong tập mà chỉ tập trung đi sâu phân tích hệ thống các bài thơ tiêu biểu đại diện cho từng phương diện thi pháp.
  • Hướng mở: Dựa trên phạm vi nghiên cứu, đề tài mở ra hướng mở rộng khảo sát toàn bộ các bài thơ chữ Hán và các ghi chép phụ lục trong sổ tay Ngục trung nhật ký, đồng thời so sánh đối chiếu thi pháp của Nhật ký trong tù với các chặng đường thơ ca khác của Hồ Chí Minh (thơ tuyên truyền cách mạng, thơ kháng chiến chống Pháp) hoặc so sánh với thể loại thơ ngục tù trong truyền thống văn học phương Đông.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Ngữ văn, Sư phạm Văn, Văn học Việt Nam và Lý luận văn học tham khảo phương pháp vận dụng lý thuyết thi pháp học vào giải mã tác phẩm thơ ca cụ thể.
  • Giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn tại trường phổ thông khi tiếp cận và phân tích các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chương trình học.
  • Người nghiên cứu văn học có thể tham khảo phần tổng thuật lịch sử vấn đề nghiên cứu Nhật ký trong tù (với các trích dẫn tài liệu trong nước và quốc tế từ Thụy Điển, Ý, Pháp, Brasil, Đức, Liên Xô) và hệ thống phân loại thi pháp nhân vật, thời gian, không gian nghệ thuật.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận sử dụng ấn bản "Nhật ký trong tù" nào làm ngữ liệu khảo sát chính? Tác giả sử dụng văn bản trong tập Nhật ký trong tù - Hồ Chí Minh, do Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2011 để trích dẫn và phân tích các bài thơ.

Tập thơ "Nhật ký trong tù" được sáng tác trong mốc thời gian và không gian cụ thể nào? Tác phẩm được viết từ ngày 29/8/1942 đến ngày 10/9/1943, trong quá trình Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giữ và giải qua 18 nhà giam thuộc 13 huyện của tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

Quan niệm nghệ thuật về con người trong "Nhật ký trong tù" được khóa luận phân tích qua những khía cạnh nào? Khóa luận chia thành ba khía cạnh: con người mất tự do trong cảnh tù đày nhưng giữ vững tự do tinh thần; con người trong cuộc sống sinh hoạt đời thường giàu tình yêu thương nhân đạo; và con người mang niềm tin, hy vọng hướng đến tương lai với tinh thần thép kiên cường.

Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm được tác giả khảo sát qua những biểu hiện nào? Thời gian nghệ thuật biểu hiện qua hai phương diện: thời gian vận động theo quy luật tự nhiên và tiến trình trong ngày (sáng sớm, trưa, chiều, hoàng hôn, đêm lạnh) và thời gian hướng đến tương lai gắn với khát vọng tự do và nỗi niềm canh cánh vì độc lập dân tộc.

Di sản thơ ca của Hồ Chí Minh được khóa luận thống kê gồm những bộ phận nào? Tác giả thống kê Hồ Chí Minh có trên dưới 250 bài thơ, tiêu biểu gồm ba tập: Nhật ký trong tù (133 bài), Thơ Hồ Chí Minh (86 bài) và Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (36 bài).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp “Thi pháp thơ Hồ Chí Minh qua tập Nhật ký trong tù” của Lê Thị Tuyết Trinh là công trình nghiên cứu nghiêm túc, vận dụng hệ thống lý luận thi pháp học hiện đại để phân tích cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm. Thông qua việc khảo sát các yếu tố nhân vật, thời gian, không gian, thể loại, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu, tác giả đã làm sáng tỏ chiều sâu tư tưởng và tài năng nghệ thuật độc đáo của Hồ Chí Minh. Nghiên cứu khẳng định giá trị văn học bền vững của tập thơ, cung cấp tư liệu thiết thực phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu văn học cách mạng Việt Nam.