Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI PHÁP, THI PHÁP HỌC VÀ VÀI NÉT VỀ HỒ CHÍ MINH 1. LÍ LUẬN CHUNG VỀ THI PHÁP VÀ THI PHÁP HỌC 1. Về “thi pháp” 1. Các ý kiến khác nhau về khái niệm “thi pháp” Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về thi pháp, mỗi tác giả nghiên cứu về thi pháp lại có một cách hiểu khác nhau về thi pháp.
Nhà nghiên cứu Nga V.Girmunxki đã định nghĩa: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn học với tư cách là một nghệ thuật” (1923). Nhà nghiên cứu Roman Gia-cốp-xơn trong công trình “ngôn ngữ học và thi pháp học” (1960) định nghĩa: “Thi pháp là một bộ phận của ngôn ngữ học, chuyên nghiên cứu “chức năng thơ của phát ngôn thơ”, tức là những nghiên cứu những cách thức làm cho phát ngôn trở thành lời thơ. Nhà nghiên cứu Pháp Ts. Tô-dô-rốp trong công trình Thi pháp học (1975) định nghĩa: “Thi pháp là các qui tắc chung mà người ta sử dụng để sáng tác ra các tác phẩm văn học cụ thể.
Nói cụ thể hơn là nghiên cứu tính văn học, chất văn học của tác phẩm văn học nói chung. Vi-nô-gra-đốp xác định “Thi pháp học là một khoa học nghiên cứu các hình thức, các dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm, sáng tác ngôn từ, các kiểu cấu trúc, các thể loại tác phẩm nhằm nắm bắt…không chỉ là các hiện tượng của ngôn từ văn học, mà còn là bản thân các phương diện hình tượng khác nhau nhất của cơ cấu tác phẩm văn học và sáng tác văn học dân gian”. Theo Trần Đình Sử thì Thi pháp có nhiều cách hiểu nhưng có hai cách hiểu chủ yếu: Một là hiểu thi pháp như là nguyên tắc, biện pháp chung làm cho văn bản, phát ngôn trở thành tác phẩm nghệ thuật. Theo cách này, thi pháp học nghành nghiên cứu thi pháp trở thành lí luận văn học và người ta cũng thường gọi là “thi học”.
Hai là hiểu thi pháp như là những nguyên tắc, biện pháp nghệ thuật cụ thể tạo thành đặc sắc nghệ thuật, của một tác giả, tác phẩm, thể loại, trào lưu v.v… trong Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, ông nhấn mạnh: thi pháp là hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật chi phối sự tạo thành của một hệ thống nghệ thuật với các 18 đặc sắc của nó. Thi pháp không phải là nguyên tắc có trước, nằm bên ngoài, mà là nguyên tắc bên trong, vốn có của sáng tạo nghệ thuật nhất định, mang một quan niệm nhất định đối với cuộc đời, con người và bản thân nghệ thuật. Thi pháp biểu hiện trên các cấp độ: tác phẩm, thể loại, ngôn ngữ, tác giả và bao trùm cả nền văn học. Thi pháp học là khoa học nghiên cứu về thi pháp.
Nó bao gồm mấy bộ phận sau: - Lí luận về thi pháp của một giai đoạn văn học cụ thể. Ở đây sẽ bao gồm lý luận về thi pháp vốn có của giai đoạn văn học. - Hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật thể hiện trong bản thân sáng tác của giai đoạn văn học được xét. Hệ thống này do tồn tại tiềm tàng trong sáng tác nên cần được miêu tả ra, đồng thời nó cũng không trùng khít với thi pháp học lý thuyết của giai đoạn văn học ấy.
- Lý luận thi pháp của người nghiên cứu dùng để miêu tả một cách hệ thống thi pháp tiềm tàng trong thực tế văn học và lý giải mới đối với lý luận thi pháp đã có trong lịch sử. Ba bộ phận của thi pháp này liên hệ với nhau theo một mối quan hệ hết sức khăng khít. Lý luận thi pháp lịch sử là siêu ngôn ngữ thành văn của thi pháp văn học một thời. Lý luận thi pháp học hiện đại dùng để miêu tả lý luận thi pháp lẫn thi pháp học của một giai đoạn.
Chính vì vậy thi pháp học hiện đại có một ý nghĩa quan trọng, bao trùm. Thiếu một quan niệm thi pháp học hiện đại sáng tỏ không thể tiến hành phân tích miêu tả hệ thống thi pháp văn học được. Đỗ Đức Hiểu trong Đổi mới phê bình văn học quan niệm: Thi pháp là phương pháp tiếp cận, tức là nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn từ nghệ thuật, để tìm hiểu các ý nghĩa biểu hiện hoặc chìm ẩn của các tác phẩm: ý nghĩa mỹ học, triết học, đạo đức học, lịch sử học, xã hội học,…cấp độ nghiên cứu thi pháp học các hình thức nghệ thuật (kết cấu, âm điệu, nhịp câu, đối thoại, thời gian, không gian, cú pháp…) yêu cầu đọc tác phẩm như một chỉnh thể, ở đó các yếu tố ngôn từ liên kết chặt chẽ với nhau, hợp thành một hệ thống để biểu đạt ý tưởng, tình cảm, tư duy, nhân sinh quan…, tức là cái đẹp của thế giới, con người. Điểm xuất phát của thi pháp là sự coi tác phẩm văn học là văn bản ngôn từ.
Nếu mỹ học là lí luận các nghệ thuật, thì thi pháp là mỹ học của văn học, là lý luận văn học, vậy thi pháp gắn chặt với ngôn ngữ học và mỹ 19 học. Thi pháp hay lí luận văn học (theo định nghĩa của Vacga – Varga) trước hết nghiên cứu các phương thức nghệ thuật, miêu tả các đặc trưng thể loại văn học, từ đó mới tìm tòi các tầng lớp ý nghĩa ẩn giấu của tác phẩm. Theo Nguyễn Thị Dư Khánh trong Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp: Thì có thể xác lập nội dung của khái niệm thi pháp từ chính nội dung ngữ nghĩa của nó. Chữ “thi” ở đây chỉ toàn bộ văn học nói chung không phải chỉ riêng về thơ.
Thi là cách nói đã thành quen, mang nội dung lịch sử, ghi dấu ấn của cả một thời kì lịch sử khá dài, khi mà mọi loại hình văn học từ anh hùng ca, truyện, kịch, tiểu thuyết đều được diễn đạt bằng thơ. Còn “pháp” là phương pháp, là phép tắc. Vậy thi pháp là phương pháp, phép tắc làm thơ, làm văn… Có thể nói ngay ở đây, phép tắc căn bản nhất của nó là sáng tạo, hư cấu nghệ thuật, tất nhiên không phải là xuyên tạc, làm méo mó đời sống mà là để thể hiện đời sống một cách nghệ thuật lung linh, hấp dẫn…Dù các quan điểm lý luận có khác nhau, có lệ thuộc vào những thiên kiến xã hội, giai cấp, chính trị như thế nào thì vẫn không thể không thừa nhận một thực tế là ngay từ buổi sơ khai, các nhà nghệ sĩ vô danh đã không chịu bằng lòng với việc mô phỏng, sao chép tự nhiên mà luôn luôn khát vọng, khám phá, chiếm lĩnh và chinh phục tự nhiên bằng những sáng tạo bay bổng của mình. Và từ buổi bình minh của lịch sử đến ngày nay, văn học nhân loại đã sáng tạo ra bao nhiêu hình thức đa dạng phong phú khác nhau, nhưng dù có biến đổi phát triển như thế nào thì bản chất của sự sáng tạo nghệ thuật bao giờ cũng là quá trình chủ quan hóa trong sự cảm nhận và lý giải đời sống, gắn liền với quá trình sáng tạo ra những hệ thống hình tượng nghệ thuật, với những phong cách cá nhân hay thời đại khác biệt.
Nghệ thuật – thực sự là nghệ thuật đích thực – bao giờ cũng là khát vọng giãi bày những xúc động mãnh liệt, những suy nghĩ sâu sắc – mang đậm nét tính chủ quan của chủ thể sáng tạo trong nội dung tư tưởng và hình thức biểu hiện để tạo nên một thế giới thứ hai, một thế giới có thể có, thế giới khát khao, thế giới giống thật…chứ không phải là phép phản ánh giản đơn. Ở đây có mối tương quan giữa nội dung phản ánh và sự phản ánh, tư tưởng và nghệ thuật, cá nhân và thời đại …diễn ra trong một tiến trình nghệ thuật mang tính đặc thù : nó vừa là hoạt động của ý thức và vô thức, vừa là kết quả của quan sát thực tế và tưởng tượng bay bổng; vừa là sản phẩm của trạng thái hưng phấn xuất thần, đột ngột vừa có thể là một kết 20 quả của một quá trình nung nấu “thai nghén, mang nặng đẻ đau”; nó cũng có thể là kết quả của những năng lực thiên bẩm nhưng cũng vừa là sản phẩm lao động miệt mài; vừa là kết quả của những đam mê, say đắm, hạnh phúc, khổ đau…và cuối cùng là để tạo thành tác phẩm: một văn bản ngôn từ…tóm lại, thi pháp là toàn bộ quá trình sáng tạo ra tác phẩm bằng nghệ thuật ngôn từ, bằng hàng loạt những thao tác nghệ thuật phức tạp, bắt đầu từ việc “thai nghén” nuôi dưỡng cảm hứng cho đến việc chọn lựa giọng điệu, thể thơ, thể văn… Đi tìm thi pháp của một tác gia, tác phẩm không phải xem tác phẩm nói gì mà chủ yếu xem tác giả nói như thế nào, bằng hình thức nghệ thuật ra sao. Lẽ đương nhiên, nghệ thuật tác phẩm bao giờ cũng gắn liền với nội dung trong sự thống nhất vốn có. Tuy nhiên, sự thống nhất này, không làm cản trở việc nghiên cứu những hiện tượng thuộc về hình thức và qui luật mang tính hình thức của nó.
Xác định khái niệm “thi pháp” Thi pháp là một hệ thống các phương tiện và phương thức thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá cuộc sống bằng hình tượng. Nói cách khác, thi pháp là ý thức nhà văn khi sáng tạo ra hình thức nghệ thuật. Hình thức nghệ thuật có hai mặt: -Mặt cụ thể, cảm tính (chất liệu tác phẩm, không gian, thời gian, chi tiết, tình tiết, nhân vật, sự kiện, mâu thuẫn, xung đột…) -Mặt quan niệm (lí lẽ, nhận thức, triết lí, tư tưởng, tình cảm…) 1. Về “thi pháp học” 1.
Khái niệm “thi pháp học” Cũng theo Trần Đình Sử từ rất nhiều ý kiến về định nghĩa thi pháp học ta có thể xác định khái niệm: Thi pháp học là bộ môn nghiên cứu tất cả mọi phương diện của hình thức nghệ thuật, mọi nguyên tắc, phương tiện tạo thành nghệ thuật cũng như sự vận động, phát triển lịch sử của chúng. Đối tượng và phương pháp của “thi pháp học” Ø Đối tượng nghiên cứu của thi pháp học là hình thức mang tính nội dung. Nội dung của văn học tức là cuộc sống được ý thức và là sự ý thức về cuộc sống. Hình thức của văn học tức là tính xác định của cuộc sống được ý thức và của ý thức về cuộc sống.
Như vậy giữa hình thức và nội dung có mối liên hệ sâu sắc: 21 nghiên cứu hình thức tức là nghiên cứu tính xác định của nội dung. Do gắn với nội dung nên hình thức là cụ thể. Cần phân biệt ý đồ với nội dung, điều muốn nói và điều đã nói.