Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phân tích tài chính Ngân hàng thương mại theo mô hình CAMEL. - Chương 2: Thực trạng phân tích tài chính tại Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam. - Chương 3: Các đề xuất nhằm ứng dụng mô hình CAMEL trong phân tích tài chính tại Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI THEO MÔ HÌNH CAMEL 1.
Tổng quan về phân tích tài chính Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm Thuật ngữ “ngân hàng” đã có từ rất lâu, từ thế kỷ 17 trở về trước, lúc này ngân hàng chưa phát triển và chưa có vai trò quan trọng, nó chỉ là một nghề mua bán và làm dịch vụ thông thường. Các tổ chức buôn tiền này đều cho vay nặng lãi và hoạt động không ổn định. Theo chiều dài của lịch sử cùng với sự phát triển của nền kinh tế, trong mỗi giai đoạn khác nhau thì hoạt động ngân hàng cũng thay đổi theo hướng ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp về mặt nghiệp vụ.
Mặt khác do tập quán luật pháp của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ khác nhau đã dẫn đến quan niệm về ngân hàng không đồng nhất giữa các khu vực trên thế giới. Tuy nhiên, bất kỳ quốc gia nào cũng định nghĩa “ngân hàng” trong một đạo luật, quy định chặt chẽ hoạt động của ngân hàng nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi khách hàng và phù hợp với lợi ích chung của quốc gia. Có thể định nghĩa ngân hàng qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ không chỉ chức năng của các ngân hàng đang thay đổi mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh chính của ngân hàng cũng không ngừng thay đổi.
Thực tế là rất nhiều tổ chức tài chính bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hướng về lĩnh vực bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xét trên phương diện những loại hình tổ chức tài chính cung cấp thì Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế (Theo sách Quản trị Ngân hàng thương mại của Peter S. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng.
Ngân hàng với tên gọi riêng theo từng nhóm khác nhau có mục đích hoạt động đặc biệt, có sự khác nhau trong tài sản có (nghĩa là đối tượng đầu tư). Người ta phân biệt ngân hàng thương mại với các tổ chức tài chính khác bằng việc phân biệt tài sản ngân hàng thương mại dựa trên tài sản. Với cách phân biệt này, một ngân hàng thương mại được xác định với đặc trưng có tỷ lệ vốn cho vay vào mục đích thương mại và công nghiệp là chiếm đa số trong tài sản của nó. Ngân hàng thương mại chiếm vị trí quan trọng nhất về quy mô tài sản và về thị phần và số lượng các ngân hàng.
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ mà nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cho vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng. Theo Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thương mại thì: Ngân hàng thương mại là ngân hàng được được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước. Ở Việt Nam, khái niệm ngân hàng được định nghĩa trong Luật các TCTD năm 1997 và Luật sửa đổi bổ sung Luật các TCTD năm 2004 như sau "Ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác".
Trong số các loại hình ngân hàng kể trên thì NHTM chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng ngân hàng do “NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước” (trích định nghĩa Ngân hàng trong Nghị định số 49/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/9/2000 về tổ chức và hoạt động của NHTM). Tính đến thời điểm này, ở Việt Nam có 7 ngân hàng quốc doanh trong đó 5 NHTM, 2 ngân hàng chính sách; 35 NHTM cổ phần; 5 ngân hàng liên doanh; 37 chi nhánh ngân hàng nước ngoài; 46 văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài (theo số liệu thống kê tại trang web của Ngân hàng Nhà nước tháng 9/2007). Hoạt động của Ngân hàng thương mại bao gồm 3 lĩnh vực: nghiệp vụ nợ (huy động vốn), nghiệp vụ có (cho vay kinh doanh) và nghiệp vụ môi giới trung gian (dịch vụ thanh toán, đại lý, tư vấn, thông tin, giữ hộ chứng từ, vật quý giá. Ba loại nghiệp vụ này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ, thúc đẩy nhau phát triển, tạo nên uy tín cho ngân hàng.
Có huy động được vốn thì mới có nguồn cho vay, cho vay hiệu quả, phát triển kinh tế thì mới có nguồn để huy động vào; đồng thời muốn cho vay và huy động vốn tốt thì ngân hàng phải làm tốt nghiệp vụ môi giới trung gian của mình. Nói chung ngân hàng thương mại giúp cho các đơn vị sản xuất kinh doanh giải quyết nhu cầu về vốn lưu động trong một lúc nào đó của quá trình hoạt động. Nhờ những hoạt động cung cấp tín dụng, ngân hàng thương mại đã lưu động hóa tiền tệ, góp phần vào việc lưu động hóa cả hàng hóa.2 Đặc điểm hoạt động của ngân hàng thương mại Với tư cách là một trung gian tài chính, ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp vì nó cũng có vốn riêng, có hoạt động mua vào bán ra, có chi phí và hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Nhưng ngân hàng thương mại là doanh nghiệp có hoạt động đặc thù so với các doanh nghiệp nói chung vì những đặc điểm sau đây: - Hoạt động của ngân hàng thương mại là kinh doanh tiền tệ , vàng bạc, chứng khoán.
và cung cấp các dịch vụ ngân hàng theo pháp luật. - Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở “đi vay” để cho vay thông qua các nghiệp vụ tín dụng của mình hay nói cách khác là đi mua “quyền sử dụng tiền” để bán lại “quyền sử dụng tiền” đó cho các đối tượng khác. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngân hàng thương mại phải bỏ chi phí mua lại “quyền sử dụng” của tiền trong một thời gian nhất định và có hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi cho chủ sở hữu của nó theo những cam kết đã thỏa thuận. Ngân hàng thương mại không thể bán “tiền” mà chỉ bán giá trị sử dụng của tiền, sau khi khai thác giá trị sử dụng khoản tiền vay trong thời hạn cam kết, người vay phải hoàn trả toàn bộ giá trị tiền vay cộng thêm khoản lợi tức trả cho người cho vay.
- Ngân hàng kinh doanh tiền tệ chủ yếu không phải bằng vốn tự có, mà chủ yếu bằng vốn của những người gửi tiền qua vai trò trung gian tín dụng, làm môi giới cho các nhà đầu tư và những người có tích lũy. Thực hiện các chức năng trung gian của mình, Ngân hàng thương mại nắm trong tay một số bộ phận lớn nhất của cải xã hội dưới dạng giá trị, nhưng không có quyền sở hữu chúng mà chỉ có quyền sử dụng với những điều kiện ràng buộc, đòi hỏi ngân hàng thươmg mại phải chịu trách nhiệm vật chất đối với những người chủ sở hữu thực của các tài sản này và sử dụng tài sản vốn đúng với điều kiện ràng buộc sao cho có hiệu quả nhất. Khi thực hiện chức năng trung gian tài chính, ngân hàng thương mại làm chủ chính bản thân mình (tìm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất), không làm hộ ai, do đó ngân hàng có trách nhiệm phải hoàn trả tiền cho người gửi vào và được tự mình sử dụng số tiền gửi đó. - Để mua được “quyền sử dụng” tiền trong một thời gian nhất định, ngân hàng thương mại phải trả một khoản tiền cho nhà sở hữu vốn và khi bán quyền sử dụng tiền ngân hàng cũng thu về một khoản tiền gọi là lãi suất.
Như vậy trong hoạt động của ngân hàng thì lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn vay. Tương tự như các loại hình kinh doanh khác, việc định giá tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sự thành bại trong kinh doanh của ngân hàng nói riêng và ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế nói chung. - Các sản phẩm của ngân hàng thương mại có đặc tính phi vật chất, vô hình hay nói đúng hơn nó là các sản phẩm dịch vụ. Sản phẩm ngân hàng thương mại chỉ bắt đầu khi khách hàng chuyển đến ngân hàng ủy nhiệm của họ khi phát sinh từ hợp đồng giao dịch thương mại, tín dụng hoặc phải hoàn thành một nghĩa vụ tài chính 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Do vậy tính chất bị động, phụ thuộc khách hàng trong sản phẩm dịch vụ ngân hàng là vô cùng lớn. - Mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng (người gửi tiền, người vay tiền) dựa trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau và tạo điều kiện thuận lợi cho nhau.