Lời mở đầu. Phần 2: Cơ sở lý luận chung về công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp phục vụ hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại. Phần 3: Số liệu sử dụng và phương pháp nghiên cứu. Phần 4: Thực trạng công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại TNHH MTV Đại Dương, chi nhánh Thăng Long, PGD Hà Đông.
Phần 5: Kết Luận. 5 PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Cơ sở lý luận chung về công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín tín dụng của ngân hàng thương mại. Khái niệm về phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại.
Theo Nghiêm Thị Thả & Nguyễn Trọng Cơ (2017), phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho các nhà quản lý đưa ra được quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, từ đó iups các đối tượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp, qua đó có các quyết định phù họp với lợi ích của chính họ. Lê Hoàng Vinh và cộng sự (2016) cho rằng “Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, nghiên cứu các số liệu tài chính nhằm đánh giá, phát hiện những tiềm năng, rủi ro cũng như hiểu rõ hơn và chính xác hơn về tất cả hoạt động của doanh nghiệp làm cơ sở đưa ra quyết định thích hợp đảm bảo mục tiêu đề ra”.Việc phân tích tài chính vai trò quan trọng trong mỗi doanh nghiệp, là yêu cầu tất yếu và khách quan trong quá trình doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và phát triển. Đối với các NHTM, hoạt động chủ yếu là huy động và cấp tín dụng, trong đó, hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận lớn trong cấu trúc lợi nhuận của mỗi ngân hàng. Do đó, để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các NHTM cần phải đảm bảo độ an toàn của các khoản tín dụng.
Để có thể đánh giá được khách hàng, NHTM cần phải thực hiện phân tích tình hình tài chính của khách hàng nghiêm ngặt, đúng quy trình để hạn chế tối đa các rủi ro như bất cân xứng thông tin hoặc rủi ro đạo đức. Theo Hoàng Thu Hà (2022), phân tích tài chính doanh nghiệp tại NHTM là quá trình mà ngân hàng xem xét, đánh giá, kiểm tra các số liệu tài chính hiện tại và quá khứ để đánh giá năng lực tài chính, lập kế hoạch phòng ngừa các rủi ro và phát hiện ra tiềm năng phát triển của doanh nghiệp. Từ đó NHTM có cơ sở đưa ra các quyết định về cấp tín dụng cho doanh nghiệp. 6 Tóm lại, PTTC của KHDN là công việc mà Ngân hàng đánh giá về sức khỏe tài chính của doanh nghiệp, thông qua báo cáo tài chính đưa ra nhận định về tài sản và nguồn vốn, doanh thu và lợi nhuận, và đặt doanh nghiệp vào bức tranh tổng thể của toàn ngành, dựa vào kết luận để xác định mức độ rủi ro của doanh nghiệp nhằm đưa ra quyết định đúng đắn cho Ngân hàng.
Vai trò của hoạt động phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp. Thứ nhất, phân tích tài chính KHDN giúp NHTM hiểu rõ hơn về khách hàng của mình, từ đó đưa ra quyết định đúng đắn trong việc cấp hạn mức tín dụng cho doanh nghiệp. Theo Lê Thị Xuân (2016), việc phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ giúp ngân hàng hiểu rõ về tình hình tài chính hiện tại cũng như trong quá khứ của doanh nghiệp, nhằm cố gắng đưa ra đánh giá có căn cứ về tình hình tài chính tương lai của công ty, ước tính tốt nhất về khả năng của những sự cố kinh tế trong tương lai. Trong đó, việc phân tích BCTC của doanh nghiệp đóng góp một vai trò rất lớn, khi là một tài liệu quan trong ghi lại tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong nhiều năm.
Bằng việc phân tích các con số đó, kết hợp với những hiểu biết thực tế về doanh nghiệp, nhà phân tích nhận ra doanh nghiệp kinh doanh có tốt hay không? cơ cấu vốn đã hợp lý so với hiện trạng doanh nghiệp hay chưa? doanh nghiệp có rủi ro từ những nguồn nào, và họ đã phòng hộ ra sao? Từ đó, NHTM sẽ đưa ra được kết luận cuối cùng về việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp. Thứ hai, phân tích tài chính giúp NHTM xác định đúng khả năng thanh toán của doanh nghiệp, là cơ sở thu hồi vốn và lãi của NHTM. Vì lãi vay là nguồn thu nhập then chốt của hoạt động ngân hàng, các NHTM cần phải hiểu rõ về khả năng thanh toán của đối tác, tùy vào từng đặc điểm cụ thể của khoản vay. Cụ thể Lê Thị Xuân (biên soạn, 2016) cho rằng: Đối với những khoản cho vay ngắn hạn, Ngân hàng thường chú ý đến đến khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp, hay là khả năng ứng phó của doanh nghiệp khi nợ vay đến hạn trả.
Đối với các khoản cho vay dài hạn, Ngân hàng cần thẩm định các dự án đầu tư, quản lý được quá trình giải ngân sử dụng vốn cho từng dự án đầu tư để đảm bảo khả 7 năng hoàn trả nợ thông qua thu nhập và khả năng sinh lời của doanh nghiệp cũng như kiểm soát dòng tiền của các dự án đầu tư của doanh nghiệp. Thứ ba, phân tích tài chính giúp NHTM xếp hạng tín dụng doanh nghiệp chính xác, giúp ngân hàng đưa ra các phương án dự phòng hợp lý. Dựa vào tình trạng tài chính và khẩu vị rủi ro của doanh nghiệp, các NHTM xếp các doanh nghiệp theo từng nhóm xếp hạng tín dụng phù hợp, từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa hợp lý như thực hiện trích lập dự phòng, giúp NHTM quản lý chặt chẽ tình trạng nợ xấu trong hệ thống. Để hạn chế rủi ro vỡ nợ, việc trích lập dự phòng cũng được quy định rõ trong luật các Tổ chức Tín dụng tại Việt Nam, ngoài ra các NHTM còn trích lập dự phòng từ lợi nhuận ròng để lại, nhằm đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng được đảm bảo vững chắc, vì lợi ích và sự phát triển lâu đài của ngân hàng.
Thêm vào đó, việc xếp hạng tín dụng cũng sẽ quyết định hạn mức cho vay đối với mỗi doanh nghiệp, lãi suất và kỳ hạn trả nợ của mỗi khoản vay. (Bùi Thị Xuân, 2016) Thứ tư, phân tích tài chính giúp ngân hàng xác định rõ triển vọng của doanh nghiệp với ngân hàng trong tương lai. Hoạt động tín dụng giữa doanh nghiệp đi vay và ngân hàng cho vay là hoạt động kinh doanh dựa trên niềm tin lẫn nhau của hai bên. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho doanh nghiệp mà họ tin tưởng sẽ trả cả gốc và lãi khoản vay trong tương lai.
Vì thế, Nguyễn Minh Kiều (2012) cho rằng những doanh nghiệp lần đầu tiên quan hệ với ngân hàng, niềm tin mà doanh nghiệp tạo cho ngân hàng ngoài các yếu tố phi tài chính, thì năng lực tài chính lành mạnh (thể hiện ở các chỉ tiêu tài chính) là một yếu tố quan trọng. Chính vì vậy, việc xây dựng hệ thống phân tích tài chính đóng vai trò quan rất quan trọng trong sự phát triển bền vững của ngân hàng. Vì thực tế việc một DN thường xuyên thay đổi ngân hàng cung cấp tín dụng thì lại bắt đầu quá trình tạo dựng lòng tin với ngân hàng đó và sự công khai tài chính cũng gây ảnh hưởng tới yêu cầu bảo mật thông tin cho DN. Đặc biệt, đối với ngân hàng thì việc xác định DN để quan hệ lâu dài cũng là một thuận lợi giảm chi phí giao dịch và tạo sự phát triển bền vững cho hoạt động tín dụng của ngân hàng 2.
Phương pháp phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp tại NHTM. Phương pháp so sánh. Theo Nguyễn Trọng Cơ & Nghiêm Thị Thả (2017), đây là phương pháp được sử dụng phổ biến và thường được thực hiện ở bước khởi đầu của việc phân tích. Để so sánh được với nhau, các chỉ tiêu cần phải đảm bảo thống nhất về không gian và thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán, dựa theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh.
Việc sử dụng phương pháp so sánh là nhằm các mục đích: Một là, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch mà doanh nghiệp đã đặt ra bằng cách so sánh giữa trị số của chỉ tiêu kỳ thực tế với trị số của chỉ tiêu kỳ kế hoạch. Hai là, đánh giá tốc độ, xu hướng phát triển của hiện tượng và kết quả kinh tế thông qua việc so sánh giữa kết quả kỳ này với kết quả kỳ trước. Ba là, đánh giá mức độ tiên tiến hay lạc hậu của đơn vị bằng cách so sánh giữa kết quả của bộ phận hay của đơn vị thành viên với kết quả trung bình của tổng thể hoặc so sánh giữa kết quả của đơn vị này với kết quả của đơn vị khác có cùng quy mô hoạt động, trong cùng một lĩnh vực hoạt động. Về kỹ thuật so sánh có thể so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối, so sánh bằng số bình quân: So sánh bằng số tuyệt đối là kết quả của phép trừ giữa trị số của chỉ tiêu kỳ phân tích so với trị số của chỉ tiêu kỳ gốc.
Kết quả so sánh biểu hiện khối lượng, quy mô biến động của các hiện tượng kinh tế. So sánh bằng số tương đối: là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế hoặc giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc đã được điều chỉnh theo tỷ lệ hoàn thành kế hoạch của chỉ tiêu có liên quan theo hướng quyết định quy mô chung của chỉ tiêu phân tích. So sánh bằng số bình quân: Số bình quân là dạng đặc biệt của số tuyệt đối, biểu hiện tính chất đặc trưng chung về mặt số lượng nhằm phản ánh đặc điểm chung của một đơn vị, một bộ phận hay một tổng thể chung có cùng tính chất. 9 Ưu điểm:Phương pháp so sánh là phương pháp đơn giản, dễ sử dụng vì không cần tính toán quá nhiều và không sử dụng các mô hình kinh tế, chỉ sử dụng các số liệu được cho sẵn.
Nhược điểm:Phương pháp so sánh yêu cầu thông tin rõ ràng, chính xác và có sự đồng nhất. Phương pháp phân tổ. Đây là phương pháp phân chia đối tượng, sự kiện nghiên cứu thành nhiều tổ theo các tiêu thức khác nhau.