phần mở đầu và phần kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phân tích tài chinh tài chính Công ty CP xây dựng Tasco. Chƣơng 3: Một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính Công ty CP xây dựng Tasco. 9 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp(TCDN) là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp. Về bản chất, TCDN là các quan hệ phân phối dƣới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động. Các mối quan hệ kinh tế phát sinh thuộc phạm vi TCDN bao gồm: - Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nƣớc thông qua việc nộp thuế hoặc tài trợ tài chính.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trƣờng tài chính, thị trƣờng hàng hóa và các thị trƣờng khác thông qua việc vay vốn, đầu tƣ, cung cấp các yếu tố sản xuất đầu vào cũng nhƣ thị trƣờng đầu ra cho hàng hóa của doanh nghiệp… - Quan hệ nội bộ của doanh nghiệp: là các quan hệ trong công tác lƣơng, thƣởng đối với công nhân viên; quan hệ thanh toán giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, phân phối lợi nhuận sau thuế, phân chia lợi tức cho cổ đông… Tóm lại, tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị phản ánh sự vận động và chuyển hoá các nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt đƣợc mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu, so sánh số liệu tài chính hiện hành với quá khứ, hiện tại với tƣơng lai nhằm đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng nhƣ rủi ro tài chính trong tƣơng lai. Nhƣ vậy, phân tích tài chính trƣớc hết là việc chuyển các dữ liệu tài chính trên Báo cáo tài chính thành những thông tin hữu ích. Quá trình này có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu của nhà phân tích.
Phân tích tài chính đƣợc sử dụng nhƣ công cụ khảo sát cơ bản trong lựa chọn quyết định đầu tƣ. 10 z Nó còn đƣợc sử dụng nhƣ công cụ dự đoán các điều kiện và kết quả tài chính trong tƣơng lai, là công cụ đánh giá của các nhà quản trị doanh nghiệp. Phân tích tài chính sẽ tạo ra các chứng cứ có tính hệ thống và khoa học đối với các nhà quản trị.Ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp nhằm mục đích đƣa ra những nhận định về thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Qua đó ngƣời sử dụng thông tin nắm đƣợc mức độ vững mạnh về mặt giá trị tài chính, độ an toàn tài chính cũng nhƣ khó khăn, thiếu sót về tài chính mà doanh nghiệp phải đƣơng đầu.
Có ba chủ thể điển hình đặc biệt quan tâm đến thông tin tài chính của một công ty đó là các nhà cung cấp tín dụng, các nhà đầu tƣ, cổ đông góp vốn và các nhà quản trị doanh nghiệp. Nhà cung cấp tín dụng cần đƣa ra các quyết định nhƣ: có nên cho vay hoặc tiếp tục cho vay không? Nên cho vay ngắn hạn hay dài hạn và cần đặt ra các rằng buộc gì cho phía công ty nhằm tăng thêm tính an toàn cho khoản tín dụng? Các nhà đầu tƣ hay cổ đông góp vốn thì cần đƣa ra các quyết định đầu tƣ ngắn hạn hay dài hạn, đầu tƣ nhằm hƣởng cổ tức hay chênh lệch giá, mua vào và bán ra tại thời điểm nào? Trong khi các nhà cho vay hay các cổ đông góp vốn chỉ đặc biệt quan tâm xem lợi ích của mình có thỏa mãn hay không thì các nhà quản trị buộc phải quan tâm đến lợi ích của tất cả các chủ thể , nhƣ nhà cho vay, nhà đầu tƣ, ban giám đốc, các nhà quản trị, công nhân viên, các nhà cung cấp đầu vào, khách hàng của công ty. do vậy, yêu cầu về việc phân tích từ phía các nhà quản trị doanh nghiệp cần rộng hơn, sâu hơn và những quyết định điều chỉnh khắc phục những yếu kém cần đƣợc đƣa ra kèm theo sau đó. Đối với nhà quản trị doanh nghiệp, họ là các chủ thể bên trong doanh nghiệp, do vậy khả năng tiếp cận thông tin của họ tốt hơn các chủ thể khác.
Nguồn thông tin mà nhà quản trị doanh nghiệp không chỉ là các báo cáo tài chính mà còn là các báo cáo của kế toán quản trị. Vai trò của nhà quản trị cần nhận ra những yếu kém, hạn chế của công ty nhằm đƣa ra các biện pháp thích hợp. Về cơ bản, nhà quản trị cần thấu hiểu thông tin tài chính của công ty ở những khía cạnh sau: 11 z - Các đặc điểm của tài sản và nguồn vốn của công ty: Phân tích sự biến động của tổng tài sản hay tổng nguồn vốn, tỷ trọng của từng danh mục để nhận ra các thay đổi bất thƣờng cần xử lý - Độ an toàn cơ cấu vốn kinh doanh của công ty thông qua đánh giá các chỉ tiêu vốn lƣu động thƣờng xuyên và đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp - Tính hợp lý trong kiểm soát chi phí của công ty thông qua phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phân tích khuynh hƣớng, biến động của các khoản mục của doanh thu, chi phí, lợi nhuận nhằm thấy những biến động không hợp lý, cần điều chỉnh. - Khả năng tạo tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính của công ty: Đánh giá đƣợc dòng tiền của công ty đƣợc tạo ra từ đâu, về cơ bản dòng tiền tạo ra từ hoạt động kinh doanh chính sẽ là cơ sở cho hoạt động đầu tƣ và trả nợ.
Nếu dòng tiền từ hoạt động kinh doanh chính thƣờng xuyên âm thì việc trả nợ của công ty không đƣợc đảm bảo. - Khả năng thanh toán của công ty đƣợc đánh giá thông qua nhóm chỉ số phản ánh khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và tiền lãi vay. - Năng lực hoạt động tài sản của công ty thông qua nhóm chỉ số phản ánh hiệu suất hoạt động của tài sản. Cải thiện năng lực hoạt động của tài sản là vai trò chính của các nhà quản trị, do vậy đây là nội dung đƣợc đặc biệt quan tâm - Khả năng sinh lời của công ty thông qua các chỉ tiêu ROA, ROS, ROE.
Ngoài ra còn có các thông số thị trƣờng liên quan đến cổ phiếu của công ty nhƣ giá cổ phiếu; thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS); tỷ số P/E; tỷ số P/B. Đối với các chủ sở hữu công ty: Để có thể trả lời đƣợc các câu hỏi của nhà đầu tƣ và cổ đông góp vốn, việc phân tích tài chính cần phải đƣa ra đƣợc những thông tin về khả năng sinh lợi của công ty, khả năng tạo tiền từ hoạt động kinh doanh chính, các thông số thị trƣờng về cổ phiếu của công ty. Đối với chủ thể cung cấp tín dụng chocông ty: Để trả lời các câu hỏi của nhà cung cấp tín dụng, ngƣời phân tích cần tập trung phân tích kết quả kinh doanh trong quá khứ, cơ cấu vốn hiện nay, sự an toàn và cân đối giữa các nguồn tài trợ, 12 z khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và lãi vay cũng nhƣ khả năng tạo tiền của công ty từ hoạt động kinh doanh chính. Ngoài 3 chủ thể điển hình trên còn một số đối tƣợng khác cũng quan tâm đến các thông tin tài chính của doanh nghiệp nhƣ: ngƣời lao động, cơ quan quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực doanh nghiệp hoạt động, cơ quan thuế.
- Đối vớingười lao động trong doanh nghiệp: Bên cạnh các nhà đầu tƣ, nhà quản lý và các chủ nợ, ngƣời hƣởng lƣơng cũng rất quan tâm đến những thông tin tài chính của doanh nghiệp. Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp có tác động trực tiếp đến khoản thu nhập chính của ngƣời lao động. Ngoài ra, trong một số doanh nghiệp, ngƣời lao động đƣợc tham gia góp vốn mua một số cổ phần nhất định. Nhƣ vậy, họ vừa là ngƣời lao động vừa là ngƣời chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn liền với doanh nghiệp.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thuế:Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhà nƣớc thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính, việc đóng thuế của doanh nghiệp có tuân thủ đúng chính sách, chế độ, quy trình nghiệp vụ, các quy định có liên quan và luật pháp hiện hành hay không. Tài liệu và các phƣơng pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Tài liệu sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp Tài liệu quan trọng nhất để sử dụng trong phân tích tài chính của doanh nghiệp đó là báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính là sự phản ánh trung thực nhất về tình hình hoạt động tài chính cũng nhƣ thực trạng vốn hiện thời của doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa to lớn không những đối với các cơ quan, đơn vị và cá nhân bên ngoài doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ thống báo cáo tài chính bao gồm: Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản tài một thời điểm nhất định. 13 z Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính phản ánh tóm lƣợc các tài khoản doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cho một thời kỳ nhất định. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành và sử dụng lƣợng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.
Thông tin về lƣu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp cung cấp cho ngƣời sử dụng thông tin có cơ sở để đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và việc sử dụng tiền trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.