MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngành Xây dựng là một trong những ngành kinh tế lớn nhất của nền kinh tế quốc dân, nó chiếm vị trí chủ chốt ở khâu cuối cùng trong quá trình sáng tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật và tài sản cố định. Trong 10 năm qua ngành xây dựng đã làm thay đổi bộ mặt của đất nước, thực sự là công cụ đắc lực thực hiện đường lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước; Công trình xây dựng (CTXD) là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. CTXD bao gồm CTXD công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các loại công trình khác (Trích luật xây dựng); Chất lượng công trình (CLCT) là yếu tố quyết định đảm bảo công năng, an toàn công trình khi đưa vào sử dụng và hiệu quả đầu tư của dự án.
QLCL CTXD là khâu then chốt, được thực hiện xuyên suốt trong quá trình triển khai dự án đầu tư XDCT đến khi dự án hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng. (Trích luật xây dựng); Để quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình xây dựng nói chưng và công trình đập nói riêng, nhà nước đã ban hành rất nhiều các luật, nghị định, thông tư hướng dẫn, các tiêu chuẩn, quy chuẩn đến các CQQLNN, các cấp quản lý từ Trung ương, đễn các địa phương. Quy rõ vai trò trách nhiệm các bên liên quan nhằm quản lý chặt chẽ, sử dụng vốn ngân sách nhà nước cũng như nguồn vốn đầu tư nước ngoài một cách có hiệu quả nhất. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã xuất hiện một số sự cố về chất lượng trong quá trình lập quy hoạch, khảo sát, thiết kê, thi công gây ra nhiều sự cố đáng tiếc ảnh hưởng đến chất lượng các công trình xây dựng.
Đòi hỏi phải nghiên cứu, phân tích để rút ra những bài học cho thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng cho từng công trình tránh những sự cố xảy ra ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế đất nước 2. Mục đích nghiên cứu Mục đích của đề tài là phân tích những sự cố chất lượng ở các công trình xây dựng 1 đập, đề xuất biện pháp tác quản lý chất lượng và bảo đảm an toàn đập. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu a. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu phân tích các sự cố chất lượng công trình xây dựng đập trên lãnh thổ Việt Nam, từ đó tìm ra nguyên nhân và trách nhiệm của các bên liên quan từ đó đưa ra các giải pháp quản lý chất lượng hiệu quả hơn cho các công trình xây dựng.
Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các hoạt động tổ chức quản lý hoạt động đầu tư xây dựng công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); 4. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đâ: Phương pháp tổng hợp, so sánh; Phương pháp chuyên gia và một số phương pháp kết hợp khác. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài a. Ý nghĩa khoa học của đề tài Đề tài nghiên cứu hệ thống những cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động quản lý đầu tư trên cả nước.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Với những kết quả nghiên cứu, đề xuất giải pháp rút ra từ chính nguồn tài liệu được thu thập từ chính quá trình làm việc và đúc kết, theo tác giả, kết quả nghiên cứu đạt được hoàn toàn có thể nghiên cứu vận dựng vào công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng đập bằng vật liệu địa phương. Nội dung nghiên cứu Đề tài được thực hiện nhằm giải quyết những nội dung chính sau đây: - Nghiên cứu tổng quan về bối cảnh Quốc gia, địa phương về sự cố các công trình đập; - Phân tích một số những sụ cố ảnh hưởng đến công trình xây dựng đập do công tác khảo sát quy hoạch dự án; - Phân tích một số sự cố ảnh hưởng đến công trình xây dựng đập do công tác thiết kế công trình; 2 - Phân tích một số sự cố ảnh hưởng đến công trình xây dựng đập do công tác thi công công trình; - Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp, thể chế chính sách nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLCL đối với các công trình xây dựng đảm bảo an toàn đập. TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH VÀ SỰ CỐ CÔNG TRÌNH ĐẬP, HỒ CHỨA BẰNG VẬT LIỆU ĐỊA PHƯƠNG 1. Tổng quan về các công trình đập, hồ chứa ở Việt Nam 1.
Quá trình đầu tư và xây dựng hồ chứa nước ở Việt Nam 1. Đối với hồ thủy lợi Tính đến nay chúng ta đã xây dựng được trên 6500 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích trữ nước khoảng 11 tỷ m3trong đó có 560 hồ chứa có dung tích trữ nước lớn hơn 3 triệu m3hoặc đập cao trên 15m, 1752 hồ có dung tích từ 0,2 triệu đến 3 triệu m3 nước, còn lại là những hồ đập nhỏ có dung tích dưới 0,2 triệu m3 nước. Các tỉnh đã xây dựng nhiều hồ chứa là: Nghệ An 625 hồ chứa Thanh Hóa 618 hồ chứa Hòa Bình 521 hồ chứa Tuyên Quang 503 hồ chứa Bắc Giang 461 hồ chứa Đắc Lắc 439 hồ chứa Hà Tĩnh 345 hồ chứa Vĩnh Phúc 209 hồ chứa Bình Định 161 hồ chứa Phú Thọ 124 hồ chứa Cụ thể, có bảng thống kê các hồ chứa theo địa phương dưới đây: 4 Bảng 1. Thống kê số lượng hồ chứa của các địa phương Số lượng hồ (loại, dung tích triệu m3) Tổng Tổng hồ hồ < Cộng TT Địa phương >100 >10 5÷10 5÷3 3÷1 1÷0,5 0,5÷0,2 > 0,2 0,2 3 triệu m triệu m3 1 Hà Giang 1 3 6 11 21 2 2 2 Cao Bằng 1 3 5 8 17 8 2 2 Lai Châu 1 1 2 8 2 4 Điện Biên 1 4 2 1 8 3 1 5 Lào Cai 3 8 11 78 8 6 Yên Bái 2 8 2 28 64 122 18 7 Tuyên Quang 1 1 6 18 34 443 47 8 Bắc Kạn 1 2 3 19 25 6 3 9 Thái Nguyên 1 1 2 6 5 7 21 129 15 10 Lạng Sơn 1 1 1 1 2 16 55 50 10 11 Sơn La 2 4 2 1 9 78 8 12 Phú Thọ 3 6 2 4 36 120 222 34 13 Vĩnh Phúc 3 1 4 5 17 30 240 27 14 Hà Nội 4 1 4 8 1 18 47 44 9 15 Bắc Giang 1 2 4 1 1 1 42 79 388 46 16 Quảng Ninh 1 7 1 1 1 2 15 66 76 14 17 Hải Dương 1 1 4 10 16 81 9 18 Hòa Bình 3 2 4 80 153 368 52 19 Ninh Bình 2 1 4 4 10 21 23 4 20 Thanh Hóa 3 3 3 6 1 1 30 71 455 52 21 Nghệ An 6 6 7 3 7 13 260 492 75 22 Hà Tĩnh 2 8 3 5 4 9 88 243 102 34 23 Quảng Bình 6 4 2 1 3 42 104 53 15 24 Quảng Trị 6 1 4 2 1 29 81 118 19 25 Thừa Thiên 2 1 2 3 8 11 27 28 5 26 Đà Nẵng 2 4 1 10 17 4 2 27 Quảng Nam 1 5 3 2 1 1 5 40 33 7 28 Quảng Ngãi 2 1 1 7 2 48 84 28 11 29 Bình Định 2 5 3 8 2 3 37 113 46 15 30 Phú Yên 2 1 9 7 9 28 13 4 31 Khánh Hòa 3 2 1 3 5 5 19 0 1 32 Kom Tum 1 2 1 7 13 39 68 9 33 Gia Lai 1 3 2 2 5 5 13 30 68 9 34 Đắk Lắk 2 8 7 3 2 6 13 239 136 37 35 Đắk Nông 1 1 1 4 59 120 28 14 5 36 Lâm Đồng 4 2 3 1 1 13 46 16 21 37 Ninh Thuận 3 5 1 2 11 1 1 38 Bình Thuận 3 3 3 2 3 4 18 5 2 39 Tây Ninh 1 2 2 4 0 4 40 Bình Phước 1 2 2 1 8 5 32 1 4 41 Bình Dương 2 1 2 5 0 5 42 Đồng Nai 4 2 2 4 1 13 2 1 43 B.R - Vũng Tàu 1 4 2 4 6 2 1 19 5 2 44 An Giang 1 1 2 3 5 45 Kiên Giang 1 1 0 1 Tổng cộng 1 10 6 8 45 71 1.64 Giai đoạn 1960 ÷ 1975: Chúng ta đã xây dựng nhiều hồ chứa có dung tích trữ nước từ 10 ÷ 50 triệu m3 như: Đại Lải (Vĩnh Phúc); Suối Hai, Đồng Mô (Hà Nội); Khuôn thần (Bắc Giang); Thượng Tuy, Khe Lang (Hà Tĩnh); Rào Nan, Cẩm Ly (Quảng Bình); đặc biệt hồ Cấm Sơn (Lạng Sơn) có dung tích 248 triệu m3nước với chiều cao đập đất 40m (đập đất cao nhất lúc bấy giờ).
Giai đoạn 1975 ÷ 2000: Sau khi đất nước thống nhất chúng ta đã xây dựng được hàng ngàn hồ chứa trong đó có nhiều hồ chứa nước lớn như: Núi Cốc (Thái Nguyên); Kè Gỗ (Hà Tĩnh); Yên Lập (Quảng Ninh); Sông Mực (Thanh Hóa); Phú Ninh (Quảng nam); Yazun hạ ( Gia Lai); Dầu Tiếng (Tây Ninh)… trong đó hồ Dầu Tiếng có dung tích lớn nhất 1,58 tỷ m3. Các địa phương trên cả nước đã xây dựng trên 700 hồ chứa có dung tích từ 1÷10 triệu m3. Đặc biệt trong giai đoạn này các huyện, xã, hợp tác xã, nông trường đã xây dựng hàng ngàn hồ chứa có dung tích trên dưới 0,2 triệu m3. Giai đoạn từ năm 2000 đến nay: Bằng nhiều nguồn vốn đặc biệt là nguồn vốn trái phiếu chính phủ, Bộ NN&PTNT đã quản lý đầu tư xây dựng mới nhiều hồ chứa có qui mô lớn và vừa như: Cửa Đạt (Thanh Hóa); Định Bình (Bình Định); Tả Trạch (Thừa Thiên Huế); Nước Trong (Quảng Ngãi); Đá Hàn (Hà Tĩnh); Rào Đá (Quảng Bình); Thác Chuối (Quảng Trị); Kroong Buk Hạ, IaSup Thượng (Đắc Lắc)… Đặc điểm chung của các hồ chứa thủy lợi là đập chính ngăn sông tạo hồ, tuyệt đại đa số là đập đất chỉ có 04 hồ có đập bê tông là: Tân Giang (Ninh Thuận); Lòng Sông 6 (Bình Thuận); Định Bình (Bình Định); Nước Trong (Quảng Ngãi).
Nhận định chung Hơn một nửa trong tổng số hồ đã được xây dựng và đưa vào sử dụng trên 25 ÷ 30 năm nhiều hồ đã bị xuống cấp.