CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN VÀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về khả năng thanh toán của doanh nghiệp 1. Khái niệm khả năng thanh toán Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kì với các khoản phải thanh toán trong kì.
Lưu Thị Hương, PGS. Vũ Duy Hào (2010) – Tài chính doanh nghiệp – NXB Đại học Kinh tế quốc dân – Tr. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính bằng tài sản của doanh nghiệp (http://www. Khả năng thanh toán trong doanh nghiệp là khả năng của một doanh nghiệp có thể hoàn trả các khoản nợ đến hạn.
Bản chất của khả năng thanh toán là doanh nghiệp luôn duy trì được tổng tài sản hiện có ở mức đảm bảo trang trải được các khoản nợ đến hạn phải trả. Đối với nhà quản trị doanh nghiệp, khả năng thanh toán có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Do đó, các nhà quản trị doanh nghiệp rất quan tâm đến quản lý khả năng thanh toán. Quản lý khả năng thanh toán ảnh hưởng đến lợi nhuận, sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và hơn thế nữa còn ảnh hưởng đến sự giàu có của cổ đông.
Một phần quan trọng trong việc quản lý khả năng thanh toán là duy trì tính thanh khoản để đảm bảo các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp vận hành trôi chảy và đáp ứng được nghĩa vụ của mình (Eljelly, 2004). Khả năng thanh toán đóng vai trò quan trọng trong thành công của doanh nghiệp. Nhà quản trị doanh nghiệp phải đảm bảo rằng doanh nghiệp không bị mất khả năng thanh toán, hoặc quá dư thừa khả năng thanh toán. Điều này sẽ làm gia tăng chi phí và giảm khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Một vấn đề khó khăn trong quản lý khả năng thanh toán của doanh nghiệp là lý thuyết đánh đổi giữa khả năng thanh toán và lợi nhuận. Duy trì khả năng thanh toán thấp có thể giúp doanh nghiệp tăng khả năng sinh lời nhưng rủi ro tài chính cao. Ngược lại, duy trì khả năng thanh toán cao, giúp doanh nghiệp đảm bảo an ninh tài chính nhưng khả năng sinh lời thấp do chi phí gánh chịu cao. Yêu cầu về khả năng thanh toán của các doanh nghiệp là khác nhau, tùy thuộc vào tính chất và đặc thù của doanh nghiệp đó.
Tuy nhiên, nhà quản trị cần duy trì khả năng thanh toán tối ưu để đảm bảo tác động tích cực đến lợi nhuận của doanh nghiệp. 1 Thư viện ĐH Thăng Long 1. Tác động của khả năng thanh toán đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Khả năng thanh toán là chỉ số được các doanh nghiệp, các cổ đông và nhà đầu tư quan tâm. Đây cũng là căn cứ để đánh giá sức khỏe tài chính, mức độ tín nhiệm, tính ổn định và bền vững của doanh nghiệp.
Các biến động về dòng tiền và tiềm lực phát triển trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp là một trong những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến mức độ rủi ro trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Việc theo dõi và đảm bảo khả năng thanh toán ở mức ổn định và phù hợp với đặc thù doanh nghiệp rất quan trọng. Nếu luôn phải duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp ở mức quá cao (dư thừa và không cần thiết với doanh nghiệp đó) sẽ tạo gánh nặng tài chính, ảnh hưởng đến việc đầu tư, mở rộng và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại, nếu doanh nghiệp để khả năng thanh toán quá thấp sẽ tiềm ẩn rủi ro to lớn đến không chỉ doanh nghiệp mà còn cả cổ đông, nhà đầu tư và các bên liên quan.
Cụ thể: Đối với doanh nghiệp: Một doanh nghiệp có khả năng thanh toán thấp sẽ gặp khó khăn trong việc có được lòng tin và tín nhiệm của nhà đầu tư và các bên liên quan, từ đó ít nhận được các khoản chiết khấu có lợi và cơ hội sinh lời tốt. Cùng với đó, khả năng thanh toán thấp sẽ khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn. Để có thể giải quyết các khoản nợ đến hạn, doanh nghiệp buộc phải bán các khoản đầu tư và tài sản với mức giá thấp, ảnh hưởng đến hình ảnh doanh nghiệp, mất lòng tin của các nhà đầu tư và các bên liên quan, tác động xấu đến việc khôi phục và phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Tuy nhiên, trong trường hợp xấu nhất khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán sẽ dẫn đến vỡ nợ và phá sản.
Đối với các cổ đông và nhà đầu tư: Khả năng thanh toán của doanh nghiệp kém báo động nguy cơ tổn thất tài sản của các cổ đông và nhà đầu tư đã bỏ tiền vào doanh nghiệp. Các cổ đông sẽ có khả năng mất quyền kiểm soát doanh nghiệp và mất đi số vốn đã đầu tư. Đối với các chủ sở hữu doanh nghiệp, khả năng thanh toán kém còn có nguy cơ ảnh hưởng đến tài sản cá nhân, tạo gánh nặng lên gia đình và xã hội nếu xảy ra vỡ nợ. Tình trạng chậm trả lãi và gốc của doanh nghiệp do khả năng thanh toán kém sẽ ảnh hưởng xấu đến tình hình tài chính của các chủ nợ của doanh nghiệp và tiềm ẩn rủi ro mất trắng.
Đối với các bên liên quan: Khả năng thanh toán kém làm áp lực trả nợ của doanh nghiệp tăng, tạo áp lực tài chính và ảnh hưởng đến việc thực hiện các nghĩa vụ với các bên liên quan. Tiêu biểu như việc đình trệ hoạt động sản xuất kinh doanh, không thể thực hiện hợp đồng đã ký, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khách hàng và các nhà cung cấp của doanh nghiệp. 2 Từ đó có thể khẳng định, việc theo dõi và duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp ở mức phù hợp là vô cùng quan trọng. Từ những kết quả đánh giá, phân tích khả năng thanh toán đó, các nhà quản trị có thể rút kinh nghiệm và đưa ra giải pháp cải thiện tình hình và phát triển doanh nghiệp.
Các nhà đầu tư và các bên liên quan có thêm căn cứ để đưa ra quyết định, hạn chế rủi ro có thể xảy ra trong tương lai. “Nếu một doanh nghiệp không thể thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của mình, sự tồn tại của nợ là điều đáng nghi ngờ. Do đó, tất cả các phép đo khác trong phân tích chỉ đóng vai trò thứ yếu. Trần Thị Thanh Tú (2018) - Giáo trình Phân tích tài chính - NXB Trường Đại học Kinh tế - Tr.
Thước đo khả năng thanh toán của doanh nghiệp Việc phân tích về khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ tập trung vào theo dõi các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá khả năng sinh lời từ việc bán các sản phẩm và dịch vụ, các nhu cầu và tính toán lượng vốn lưu động ròng. Ta có sáu chỉ số để đánh giá khả năng thanh toán của một doanh nghiệp thường sử dụng như sau: - Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là hệ số tổng quát nhất đánh giá năng lực thanh toán của doanh nghiệp trong ngắn và dài hạn. Hệ số phản ánh mối quan hệ giữa tài sản mà doanh nghiệp hiện đang quản lý, sử dụng với tổng số nợ phải trả. Với cùng đơn vị tính, một đồng nợ phải trả của doanh nghiệp sẽ có bao nhiêu đồng tài sản đảm bảo.
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát được khái quát hóa bằng công thức sau: Tổng tài sản Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Nợ phải trả Trong đó: Nếu hệ số ≥ 1: Chứng tỏ doanh nghiệp có đủ và thừa khả năng thanh toán, khi đó tình hình của doanh nghiệp khả quan, tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh, đem lại hiệu quả tài chính tốt. Nếu hệ số < 1: Chứng tỏ doanh nghiệp không có khả năng thanh toán, chỉ tiêu này càng nhỏ dẫn tới doanh nghiệp sắp bị giải thể hoặc phá sản trong tương lai, doanh nghiệp cần nhanh chóng hành động, đưa ra các giải pháp xử lý phù hợp tránh việc phá sản có thể xảy ra. Tuy nhiên, giá trị của chỉ tiêu chủ yếu đúng về mặt lý thuyết còn trên thực tế chỉ tiêu này luôn lớn hơn 1. Vì nếu giá trị của chỉ tiêu bằng 1, tức là toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bằng nợ vay, doanh nghiệp không có đồng vốn chủ sở hữu nào.
Điều này thể hiện rằng doanh nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn tài trợ bên ngoài để duy 3 Thư viện ĐH Thăng Long trì và phát triển hoạt động kinh doanh của mình. Sự phụ thuộc đối với nợ vay đặt doanh nghiệp trong một tình hình rủi ro tài chính cao. Bất kỳ biến động tiêu cực nào trong doanh thu hoặc chi phí cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ vay. Doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với các khoản lãi suất và chi phí liên quan đến việc vay nợ.
Nếu lãi suất tăng lên, chi phí vay nợ sẽ tăng, gây áp lực lớn cho tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời, do không có vốn chủ sở hữu để chịu rủi ro, các nhà đầu tư hoặc ngân hàng có thể đánh giá doanh nghiệp như một đối tác đầu tư rủi ro cao hơn, và có thể yêu cầu lãi suất cao hơn hoặc các điều kiện vay nợ khắt khe hơn. - Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn: Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn phản ánh mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn. Với cùng một đơn vị tính, một đồng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp sẽ có bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn đảm bảo.
Trong đó, nợ ngắn hạn là những khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh. Tuy nhiên, đặc thù của hệ số này ở mỗi ngành là khác nhau nên cần được đánh giá dựa vào tỷ số trung bình của các doanh nghiệp trong cùng ngành. Thêm vào đó, để đảm bảo tính chính xác của các đánh giá, cần so sánh hệ số này ở các thời điểm trước đó của doanh nghiệp. Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn được khái quát hóa bằng công thức: Tài sản ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn = Nợ ngắn hạn Trên lý thuyết, nếu trị số của chỉ tiêu này ≥ 1, doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thường hoặc khả quan.